• LỜI PHẬT DẠY

    Dứt bỏ nóng giận, diệt trừ tính kiêu căng, không luyến ái vật chất, không còn ham muốn dục vọng, sẽ giải thoát được mọi sự ràng buộc và không bao giờ bị phiền não.

  • LỜI PHẬT DẠY

    Bạn phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương bạn, bạn phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.

  • LỜI PHẬT DẠY

    Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn.

Bồ Tát Giới

Chương 2:
Chính Vãn Bồ Tát Giới Phạn Võng

Bồ tát giới Phạn võng
là giới pháp vô thượng,
trăm ngàn vạn ức kiếp
vẫn khó mà gặp được;
nay con đã thấy nghe
lại còn được thọ trì,
nguyện cầu sớm thành tựu
pháp tánh thân thường trú.
Kính lạy đức Lô xá na như lai.
Kính lạy đức Thích ca mâu ni như lai.
Kính lạy Kho tàng Bồ tát giới Phạn võng.

Kinh Phạn võng, phẩm thứ 10 " Tâm địa giới Bồ tát của đức Lô xá na tuyꮠthuyết", phần dưới



Xuất Xứ Gián Tiếp Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

Khi ấy đức Lô xá na đãvì đại chúng mà khai thị một cách tóm tắt, chỉ bằng đầu sợi lông, về pháp môn tâm địa, một trong các pháp môn nhiều đến vô lượng không thể nói hết, như cát của trãm ngàn sông Hằng. Và kết thúc rằng, pháp môn tâm địa ấy hết thảy chư Phật quá khứ đãnói, chư Phật vị lai sẽ nói, chư Phật hiện tại đang nói, tất cả Bồ tát trong quá khứ vị lai và hiện tại đãhọc sẽ học và đang học. Như lai đãtrải qua cả trãm vô số kiếp tu hành tâm địa ấy, kết quả thành Phật, danh hiệu Lô xá na. Chư vị Phật đà, các ngài hãy chuyển pháp môn của Như lai đã nói cho hết thảy chúng sinh, khai thị tâm địa cho họ. Bấy giờ trên Sư tử tòa sáng chói rực rỡ ở Liên hoa đài, tức Hoa tạng thế giới, đức Lô xá na phóng ra ánh sáng, khuyến cáo một ngàn đức Thích ca trên một ngàn cánh hoa, rằng các ngài hãy đem phẩm Pháp môn tâm địa của Như lai mà đi, nói lại một cách tuần tự phẩm ấy cho một ngàn lần trãm ức đức Thích ca, và hết thảy chúng sinh, với lời khuyến cáo rằng các người hãy thọ trì, đọc tụng, nhất tâm mà phụng hành.

Khi ấy một ngàn đức Thích ca trên một ngàn cánh hoa, và một ngàn lần trăm ức đức Thích ca, đều đứng dậy từ Sư tử tịa rực rỡ ở Hoa tạng thế giới. Ngài nào cũng cáo thoái bằng cách khắp mình phóng ra ánh sáng bất khả tư nghị, cùng hóa hiện vô lượng đức Phật nữa, và cùng trong một lúc dùng vô số sắc hoa xanh vàng đỏ trắng hiến cúng đức Lô xá na, tiếp nhận và ghi nhớ trọn vẹn phẩm Pháp môn tâm địa mà ngài đã tuyên thuyết. Rồi các ngài từ Hoa tạng thế giới ẩn đi. Aẫn rồi nhập định tꮠBông hoa ánh sáng của thể tánh thanh tịnh in như hư không, trở về dưới cây bồ đề ở châu Diꭠphù của thế giới mình, xuất định nói trên, ngồi trên Kim cang tòa đầy bông hoa ánh sáng, và tại Diệu quang đường nói về mười biển cả thế giới, lại rời chỗ ấy đến Đế thích cung nói về mười trú, đến Diệm thiꮠnói về mười hành, đến Đâu suất thiꮠnói về mười hướng, đến Hóa lạc thiꮠnói về mười định, đến Tha hóa thiꮠnói về mười địa, đến Sơ thiền nói về mười kim cang, đến Nhị thiền nói về mười nhẫn, đến Tam thiền nói về mười nguyện, đến cung Đại tự tại thiꮠvương thuộc Tứ thiền nói lại phẩm Pháp môn tâm địa mà bản thân là đức Lô xá na ở Hoa tạng thế giới đãnói. Toàn thể một ngàn lần trăm ức đức Thích ca đều làm như vậy, không khác gì nhau, như phẩm Hiền kiếp đãnói.



Xuất Xứ Trực Tiếp Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

Bấy giờ đức Thích ca mâu ni từ Hoa tạng thế giới mà khởi đầu ngài đãhiện ra ở đó, hướng về phía đông, đi vào cung thiên vương, nói xong kinh Ma vương chịu giáo hóa, rồi hạ sinh ở nước Ca di la thuộc châu Diêm phù, mẹ là hoàng hậu Ma da, cha là hoàng đế Bạch tịnh, " Như lai tên Tất đạt, bảy nãm xuất gia, thành đạo lúc ba mươi tuổi, danh hiệu Thích ca mâu ni, đầu tiꮠngồi Kim cang tòa đầy bông hoa ánh sáng tại Tịch diệt tràng, cuối cùng đến cung Đại tự tại thiꮠvương, tuần tự thuyết pháp cả mười chỗ". Trong khi thuyết pháp tại cung Đại tự tại thiꮠvương, đức Thích ca mâu ni nhìn tràng lưới của các Đại phạn thiên vương, nhân đó nói với họ, rằng vô lượng thế giới in như mắt lưới, mỗi mỗi khác nhau, vô cùng vô tận ; pháp môn đức Lô xá na dạy cũng y như vậy. Như lai nay đến thế giới này đãtám ngàn lần, vì cả thế giới Sa bà mà ngồi Kim cang tòa đầy bông hoa ánh sáng, nói về mười biển cả thế giới, cho đến đến cung Đại tự tại thiꮠvương này, tóm tắt khai thị hoàn tất phẩm Pháp môn tâm địa cho đại chúng ở đây.

Rồi từ cung thiên vương ấy, Như lai trở xuống, ngồi dưới cây bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh phàm phu mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô xá na của Như lai đãnói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới pháp mà từ khi mới phát tâm ngài đã thường tụng. Giới pháp ấy như ngọc kim cang sáng chói, và là bản nguyên của chư Phật, của Bồ tát, là hạt giống Phật tánh. Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh, và đương nhiên có cái nhân như vậy thì đương nhiên thực hiện pháp thân thường trú. Về mười Ba la đề mộc xoa mà Như lai sẽ nói lại như sau đây, khi xuất hiện ở thế giới này, thì đó chính là giới pháp của Phật pháp, là giới pháp mà hết thảy chúng sinh trong quá khứ vị lai và hiện tại nên kính phụng thọ trì. Như lai sắp sửa vì cả đại chúng ở đây mà trùng tuyên phần Giới pháp vô tận - giới pháp của hết thảy chúng sinh, bản nguyên là tự tánh thanh tịnh.



Xuất Xứ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng Bằng Văn Chỉnh Cú

Như lai Lô xá na
an tọa Liên hoa đài
xung quanh Liên hoa đài
có cả một ngàn cánh.
Trên ngàn cánh hoa ấy
Như lai hiện ngàn Phật,
tất cả đồng một hiệu
hiệu Thích ca thế tôn.
Mỗi cánh hoa nói trên
có trãm ức thế giới,
mỗi thế giới lại có
một đức Thích ca nữa;
các đức Thích ca này
cùng trong một thì gian
ngồi dưới bồ đề thọ
thành tựu vô thượng giác.
Ngàn và ngàn trăm ức
đức Thích ca nói trꮬ
toàn thể chỉ là một
bản thân Lô xá na.
Một ngàn lần trăm ức
đức Thích ca như vậy
cùng tiếp dẫn đại chúng
số lượng như vi trần,
tất cả đều đưa đến
chỗ Như lai an tọa,
để nghe Như lai tụng
giới pháp của chư Phật.
Như lai tụng hoàn tất
giới pháp của chư Phật
là cửa ngõ Cam lộ
tức thì được khai mở.
Bấy giờ ngàn trăm ức
đức Thích ca thế tôn
về lại bồ đề tràng
ngồi dưới bồ đề thọ,
cùng tụng lại giới pháp
của đức Phật bản thân,
gồm có mười giới nặng
và bốn tám giới nhẹ.
Giới pháp ấy in như
vầng thái dương sáng chói
ánh trãng rằm quang rạng
và chuỗi ngọc quí báu;
hết thảy các Bồ tát
nhiều như số vi trần,
đều do giới pháp này
mà thành Đẳng chánh giác.
Giới pháp đức bản thân
Lô xá na đãtụng,
Như lai cũng tụng lại
hoàn toàn y như vậy.
Nên tất cả các người -
Bồ tát mới tu học,
hãy hết lòng tôn kính
thọ trì giới pháp ấy.
Các người đãthọ trì
giới pháp như vậy rồi,
lại đem giới pháp ấy
chuyền trao cho chúng sinh.
Vậy tất cả các người
hãy chú ý lắng nghe
Như lai tụng chính xác
giới tạng trong Phật pháp.
Giới tạng ấy chính là
Ba la đề mộc xoa,
nên hết thảy đại chúng
chí tâm mà thâm tín ;
thâm tín rằng chính mình
là đức Phật sẽ thành,
y như Như lai đây
là đức Phật đãthành,
thường thâm tín như vậy
giới pháp đãđầy đủ.
Bất cứ là loài nào
hễ vốn có tâm tánh,
thì đều nên lãnh thọ
giới pháp của chư Phật.
Chúng sinh mà lãnh thọ
giới pháp của chư Phật,
thì kẻ ấy tức thì
nhập vào cương vị Phật;
cương vị đãđồng thể
với chư Phật đại giác,
thì người ấy đích thực
là con của chư Phật.
Vậy tất cả đại chúng
cung kính mà lắng nghe
Như lai sẽ tụng lại
giới pháp của chư Phật.


Qui Định Mấy Điều Cốt Yếu Về Bồ Tát Giới Phạn

Bấy giờ đức Thích ca mâu ni ngồi dưới cây bồ đề, thành tựu tuệ giác vô thượng rồi, bắt đầu qui định về Bồ tát giới, rằng sự hiếu thuận đối với cha mẹ, đại sư, chư tãng, đối với Tam bảo - sự hiếu thuận ph?7907;p chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự đình chỉ mọi sự tội lỗi. Đức Thế tôn liền từ miệng vàng phóng ra ánh sáng vô lượng. Lúc ấy đại chúng có đến trãm vạn ức, các vị Bồ tát, các vị Phạn thiꮍ trong mười tám tầng trời cõi Sắc, các vị thiên nhân trong sáu tầng trời cõi Dục, các vị quốc vương của mười sáu nước cường đại, đều chắp tay, khuynh tận tâm trí, lắng nghe đức Thế tôn tụng lại giới pháp đại thừa của hết thảy chư Phật.

Đức Thế tôn dạy các vị Bồ tát, nay Như lai cứ nửa tháng nửa tháng đích thân tụng lại giới pháp của Phật pháp. Các người, những vị Bồ tát mới phát tâm, cho đến những vị Bồ tát mười phát thú mười trưởng dưỡng mười kim cang và mười địa, cũng phải tụng y như vậy. Vì lý do ấy mà ánh sáng giới pháp từ miệng Như lai tuôn ra. Ánh sáng ấy có lý do chứ không phải không có. Nhưng ánh sáng ấy không phải xanh vàng đỏ trắng đen, không phải vật lý tâm lý, không phải khái niệm có không, không phải tính cách nhân quả; mà là bản nguyên của chư Phật, là căn bản của Bồ tát, cãn bản của chính đại chúng Phật tử các người. Vì vậy, đại chúng Phật tử các người phải thọ trì, phải đọc tụng, phải khéo học.

Phật tử, lắng nghe cho ky? Muốn lãnh thọ giới pháp của chư Phật thì không cứ quốc vương, vương tử, tể tướng, bách quan, tỷ kheo, tỷ kheo ni, phạn thiên mười tám tầng trời cõi Sắc, thiên nhân sáu tầng trời cõi Dục, tất cả dân chúng, những kẻ hoàng môn, dâm nam dâm nữ, nô bộc tỳ thiếp, quỉ thần trong tám bộ, thần Kim cang, súc sinh, cho đến những kẻ biến hóa, hễ ai hiểu được tiếng nói của vị pháp sư truyền giới, thì đều có thể thọ giới và được giới - đều có thể trở thành người thanh tịnh bậc nhất.

10 Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

Đức Thế tôn dạy, các Phật tử, giới pháp nặng có mười điều. Nếu thọ Bồ tát giới mà không tụng mười giới pháp nặng ấy thì không phải Bồ tát, không phải hạt giống làm Phật. Vì chính Như lai cũng tụng như vậy, hết thảy Bồ tát thì đã học sẽ học và đang học. Và như vậy là Như lai đã vắn tắt nói đến tướng mạo Bồ tát giới. Các người phải học, kính cẩn mà phụng trì.

(1. không được tàn sát)

Phật tử nếu tự mình tàn sát, bảo người tàn sát, tàn sát bằng phương tiện, bằng cách tán dương sự tàn sát, bằng sự tán đồng khi thấy kẻ khác tàn sát, cho đến tàn sát bằng chú thuật - tàn sát với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự tàn sát; nhưng, đối với bất cứ loài nào, hễ có sinh mạng thì không được cố ý tàn sát. Là Bồ tát thì phải phát khởi lòng từ bi và lòng hiếu thuận thường trú, phương tiện cứu giúp và che chở cho hết thảy mọi loài sinh vật, vậy mà đảo ngược lại, mặc sức khoái ý mà tàn sát, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(2. không được trộm cướp)

Phật tử nếu tự mình trộm cướp, bảo người trộm cướp, trộm cướp bằng phương tiện, bằng chú thuật - trộm cướp với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự trộm cướp; nhưng, cho đến tài vật quỉ thần, tài vật có chủ, tài vật đạo tặc, tài vật công cộng, dẫu bằng cây kim ngọn cỏ mà thôi, cũng không được cố ý trộm cướp. Là Bồ tát thì phải phát sinh tâm hiếu thuận và tâm từ bi của Phật tánh, thường xuyên giúp người làm phước đức và được yên vui, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên mà còn trộm cướp tài vật của người, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(3. không được dâm dục)

Phật tử nếu tự mình dâm dục, bảo người dâm dục; nhưng, đối với bất cứ nữ nhân nào, cho đến giống cái trong súc vật, phái nữ trong chư thiên và quỉ thần, hoặc những chỗ không phải bộ phận sinh thực, đều không được cố ý dâm dục - dâm dục với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự dâm dục. Là Bồ tát thì phải sinh tâm hiếu thuận, cứu độ tất cả, bằng cách đem pháp thanh tịnh mà cho người, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên mà còn nổi dậy sự dâm dục đối với mọi người, không chừa cả súc vật, đến nỗi đối với mẹ, con gái, chị, em gái, bà con nội ngoại, cũng hành dâm cả, không còn gì gọi là lòng từ bi, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(4. không được vọng ngữ)

Phật tử nếu tự mình vọng ngữ, bảo người vọng ngữ, vọng ngữ bằng phương tiện - vọng ngữ với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự vọng ngữ, cho đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, vọng ngữ cả thân thể lẫn tâm trí ; nhưng Bồ tát thì phải thường tự phát sinh ngôn ngữ chân chính và kiến thức chân chính, lại phát sinh cho người hai thứ ngôn ngữ chân chính và kiến thức chân chính ấy, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên mà còn làm nổi dậy nơi mọi người những thứ ngôn ngữ bất chính, kiến thức bất chính và hành động bất chính thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(5. không được buôn rượu)

Phật tử nếu tự mình buôn rượu, bảo người buôn rượu - buôn rượu với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự buôn rượu; nhưng hết thảy loại rượu đều không được mua bán, vì lẽ rượu là yếu tố gây ra mọi thứ tội lỗi. Là Bồ tát thì phải phát sinh cho chúng sinh cái tuệ minh đạt, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên mà còn phát sinh cho người cái tâm thác loạn, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(6. không được nói xấu đồng đạo)

Phật tử nếu tự mình nói xấu những sự lầm lỡ của những người xuất gia tại gia thọ Bồ tát giới, hay của các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni, lại bảo người khác nói xấu - nói xấu với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự nói xấu ; nhưng Bồ tát nghe những kẻ ác tâm trong hàng ngũ ngoại đạo và nhị thừa công kích sự phi giáo pháp và phi giới luật trong tổ chức Phật giáo, thì thường sinh tâm từ bi, giáo hóa những kẻ ác tâm ấy, làm cho họ có được đức tin đại thừa, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên mà còn tự mình nói xấu những sự lầm lỡ trong tổ chức Phật giáo, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(7. không được khen mình chê người)

Phật tử nếu tự tán dương mình mà phỉ báng người khác, lại bảo kẻ khác phỉ báng - phỉ báng với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự phỉ báng; nhưng Bồ tát thì phải thay thế hết thảy chúng sinh mà chịu lấy bao nhiêu sự phỉ báng và tủi nhục, việc xấu thì xoay về nơi mình, việc tốt thì đừa cho người khác, vậy mà đảo ngược lại, tự khoe cái hay của mình, dấu cái tốt của người, làm cho họ phải chịu mọi sự phỉ báng, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(8. không được tiếc lẫn tài pháp)

Phật tử nếu tự mình tiếc lẫn, bảo người tiếc lẫn - tiếc lẫn với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự tiếc lẫn; nhưng Bồ tát thì bất cứ người nghèo thiếu nào đến cầu xin, cũng phải tùy nhu cầu của họ mà cung cấp những thứ mình có, vậy mà đảo ngược lại, vì tâm địa không tốt, tâm lý hờn giận, nên đến nỗi một đồng tiền, một cây kim, một ngọn cỏ cũng không cho ai; có ai đến cầu xin Phật pháp, đãkhông nói cho họ được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, một chút bằng hạt bụi, lại còn nhục mạ họ nữa, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(9. không được giận dữ không nguôi)

Phật tử nếu tự mình giận dữ, bảo người giận dữ - giận dữ với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự giận dữ; nhưng Bồ tát thì phải phát sinh cho người mọi thứ thiện căn, nhất là đức tính hòa bình, thường phát sinh nơi mình tâm từ bi và tâm hiếu thuận, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên mà, đối với chúng sinh, thậm chí đối với phi chúng sinh, cịn nhục mạ bằng miệng tiếng độc dữ, da thꭠsự đánh đập bằng tay chân và khí cụ, lòng vẫn chưa nguôi,người ta cầu xin sám hối, tạ tội bằng ngôn ngữ khả ái, cũng vẫn giận dữ không thôi, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

(10. không được phỉ báng Tam bảo)

Phật tử nếu tự mình phỉ báng Tam bảo, bảo người phỉ báng - phỉ báng với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự phỉ báng; nhưng Bồ tát nghe cái tiếng của những kẻ ngoại đạo hay những người ác tâm buông một lời phỉ báng đến Phật thì đãthấy như tim mình bị ba trăm mũi nhọn đâm vào, huống chi chính miệng mình phỉ báng; đã không phát sinh sự tín ngưỡng và lòng hiếu thuận cho mọi người mà còn đảo ngược lại, giúp thêm vào sự phỉ báng của những kẻ ác tâm, những người tà kiến, thì đó là tội ba la di của Bồ tát.

Các nhân giả khéo học, như thế đó là mười giới pháp nặng của Bồ tát, các nhân giả phải học. Trong đó nhất nhất không được phạm vào bằng một hạt bụi, huống chi phạm đủ cả mười giới pháp. Ai phạm thì người đó thân hiện tại không thể phát bồ đề tâm, phẩm vị quốc vương và luân vương đãmất, lại mất phẩm vị tỷ kheo tỷ kheo ni, mất các Bồ tát vị mười phát thú mười trưởng dưỡng mười kim cang và mười địa, bao nhiêu thành quả vi diệu và thường trú của Phật tánh cũng mất tất cả, sa vào ba đường dữ, đến nỗi hai kiếp ba kiếp không nghe được cái tiếng Cha mẹ hay danh hiệu Phật pháp tãng. Vì lẽ ấy, nhất nhất không nên phạm. Bồ tát các người đang học bây giờ, sẽ học về sau, đãhọc trong quá khứ, đối với mười giới pháp nặng như vậy phải cung kính phụng trì, như Như lai sẽ nói rộng rãi trong phẩm Tám vạn uy nghi.

48 Giới Nhẹ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

Đức Thế tôn dạy các vị Bồ tát, Như lai đãnói mười giới pháp nặng rồi, bốn mươi tám giới pháp nhẹ bây giờ Như lai sẽ nói.

(1. không được bất kính thầy bạn)

Phật tử nếu sắp nhận địa vị quốc vương, địa vị luân vương, địa vị bách quan, thì trước đó phải l㮨 thọ Bồ tát giới. Những người như vậy sẽ được quỉ thần hộ trì, được chư Phật hoan hỉ. L㮨 thọ Bồ tát giới rồi, phải sinh tâm hiếu thuận và tâm tôn kính ; khi thấy các vị thượng tọa, hòa thượng, xà lê, các vị đại đức, thấy các người c?ột sở học, cùng một kiến giải, cùng một sở hành, thì hãy đứng lên, đón tiếp, thi lễ, hỏi han. Là Bồ tát mà đảo ngược lại, sinh tâm kiêu ngạo, tâm khinh lờn, tâm ngoan cố, tâm giận dữ, không chịu đứng lꮬ đón tiếp, thi lễ, hỏi han, mọi sự nhu cầu cũng không cung phụng đúng với chánh pháp; trong khi lẽ đáng nꮠhy sinh cả bản thân, địa vị, con cái, của báu và tài vật linh tinh mà hiến cúng các ngài. Nếu không làm như vậy thì phạm tội kinh cấu.

(2. không được uống các thứ rượu)

Phật tử nếu cố ý uống rượu, mà rượu thì dẫn ra vô số lầm lỗi; tự tay mình trao rượu cho người khác uống mà năm trãm đời kiếp cánh tay không có, huống chi chính mình tự uống. Cũng không được chỉ bảo cho mọi người uống rượu hay luyện tập cho các sinh vật khác uống, huống chi chính mình uống lấy. Nên bất cứ rượu gì cũng không được uống. Nếu cố ý tự uống hay bảo người khác uống thì phạm tội khinh cấu.

(3. không được ãn các thứ thịt)

Phật tử nếu cố ý ãn thịt, nhưng thịt nào cũng không được ãn. Ãn thịt thì hỏng mất hạt giống Phật tánh vốn rất từ bi, mọi loài sinh vật thấy thì bỏ chạy. Vì lý do ấy, tất cả Bồ tát không được ãn d?ất cứ thứ thịt gì của sinh vật nào. Ăn thịt thì tội lỗi vô lượng. Nếu cố ý ãn thì phạm tội khinh cấu.

(4. không được ãn đồ cay nồng)

Phật tử thì không được ãn nãm loại cay nồng là tỏi, kiệu, hành, nén, hẹ. Năm loại ấy, trong bất cứ thức ãn nào cũng không được ãn. Nếu cố ý ãn thì phạm tội khinh cấu.

(5. không được không khuyꮠsám hối)

Phật tử nếu thấy ai phạm tám giới, nãm giới, mười giới, các giới khác, bảy tội nghịch, và những tội ác bị tám tai nạn, thấy tất cả tội phạm giới như vậy đều phải khuyꮠvà chỉ cho họ cách thức sám hối. Là Bồ tát mà không khuyên và chỉ cho họ cách thức sám hối, lại cùng họ cư trú, cùng họ nhận đồ hiến cúng, cùng họ bố tát và đồng chúng thuyết giới mà không cử tội để khuyên và chỉ cách cho họ sám hối, thì phạm tội khinh cấu.

(6. không được không cầu chánh pháp)

Phật tử nếu thấy các vị pháp sư đại thừa, các vị c?ọc cùng hiểu và cùng làm về đại thừa, đến tãng phường, đến nhà cửa, thành thị, thôn ấp của mình, và dẫu ở xa cách trăm dặm ngàn dặm mà đến đi nữa, cũng tức thì đứng lꮬ đón rước, tiễn đưa, kính lạy, hiến cúng. Mỗi ngày hiến cúng ba lần, và giả sử tốn đến vài ba lạng vàng đi nữa, hết thảy đồ uống, đồ ãn, đồ nằm, đồ ngồi, đồ mặc, thầy thuốc, thuốc, đều cung đốn cho vị pháp sư. Mọi sự nhu cầu của vị ấy cung phụng đủ cả. Mỗi ngày ba lần, phải thường thỉnh cầu vị pháp sư thuyết pháp cho. Mỗi ngày kính lạy ba lần mà vẫn không nổi dậy trong lòng sự giận dữ, phiền bực. Vì pháp mà mất mạng đi nữa cũng vẫn cầu pháp không chán. Nếu không như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(7. không được không đi nghe pháp)

Phật tử thì bất cứ chỗ nào có diễn giải kinh luật nói về giới pháp, chỗ ấy dầu là nhà to cửa lớn mà có đặt chỗ diễn giảng, các vị Bồ tát mới học cũng phải đem kinh luật đến mà lắng nghe, tiếp nhận và thưa hỏi nơi vị pháp sư. Trong núi rừng, dưới đại thọ, nơi tãng địa, trong tãng phường, bất cứ chỗ nào có giảng thuyết giới pháp thì càng đến để lắng nghe, tiếp nhận. Nếu không đến thì phạm tội khinh cấu.

(8. không được phản đại thừa giới)

Phật tử nếu có tư tưởng phản bội kinh luật thường trú của đại thừa, cho rằng kinh luật ấy không do Như lai tuyên thuyết, và đảo ngược lại, thọ trì những kinh luật của nhị thừa thanh văn và ngoại đạo ác kiến mà nội dung gồm có giới pháp và lý thuyết phủ nhận Phật tánh, thì phạm tội khinh cấu.

(9. không được không giúp bịnh tật)

Phật tử nếu thấy bất cứ người bịnh tật nào cũng phải giúp đỡ thường xuyên y như phụng sự Phật đà. Bởi lẽ trong tám đám ruộng sinh trưởng phước đức, sự chãm sóc bịnh tật là đám ruộng tốt nhất. Nếu cha mẹ, đại sư, chư tãng, hay đệ tử bị bịnh tật, bị thiếu các bộ phận nơi cơ thể, bị hàng trăm thứ bịnh dày vò, thì mình phải chăm nuôi cho lành mạnh. Là Bồ tát mà vì tâm lý tàn nhẫn, tâm lý giận ghét, nên không chăm sóc bịnh tật cho người, đến nỗi nơi tãng phường, nơi thành thị, thôn ấp, nơi hoang dã, núi rừng, nơi đường sá, thấy bịnh nhân cũng không cứu giúp, thì phạm tội khinh cấu.

(10. không được tàng trữ khí cụ)

Phật tử thì không được tàng trữ dao, gậy, cung, tên, giáo, mác, và những khí giới chiến đấu khác. Bao nhiêu dụng cụ để bẫy lưới sãn bắn, sát hại sinh vật, cũng không được tàng trữ. Là Bồ tát thì đến nỗi kẻ giết cha mẹ mình, mình cũng không giết lại để báo thù, huống chi đối với người khác và vật khác. Nên không được tàng trữ khí giới và dụng cụ tàn sát. Nếu cố ý tàng trữ thì phạm tội khinh cấu.

Mười giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong sáu phẩm sau Như lai sẽ nói rõ.

(11. không được làm kẻ quốc tặc)

Phật tử thì không được vì lợi lộc hay vì ác ý, làm sứ thần cho quốc gia mà liên minh quân sự, động binh đánh nhau, tàn hại vô số sinh mạng. Là Bồ tát thì sự qua lại trong quân binh còn không được có, huống chi cố ý làm tên quốc tặc. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

(12. không được buôn bán tàn nhẫn)

Phật tử nếu cố ý buôn bán lương dân, buôn bán nô bộc tỳ thiếp, buôn bán súc vật, buôn bán quan quách và những dụng cụ tẩn liệm; nhưng mọi sự buôn bán ấy chính mình còn không được làm, huống chi chỉ bảo người khác. Nếu cố ý tự làm hay chỉ bảo người khác thì phạm tội khinh cấu.

(13. không được phỉ báng không thật)

Phật tử nếu vì tâm địa độc ác mà, một cách không có sự thật, phỉ báng những người hiền lương, những vị thiện đức, những bậc pháp sư, đại sư hịa thượng, đại sư xà lê, quốc chúa, quí nhân, rằng phạm bảy tội nghịch, mười giới nặng ... Nhưng, đối với những người nên coi như cha mẹ chú bác anh em trong hàng lục thân ấy, mình phải phát sinh tâm hiếu thuận, tâm từ bi, vậy mà đảo ngược lại, đãkhông làm như trên, lại còn gia thêm sự trái ý, sự tổn thương, khiến họ hãm vào tình trạng khổ tâm, thì phạm tội khinh cấu.

(14. không được cố ý thi굠đốt)

Phật tử nếu vì tâm địa tàn ác mà phóng lửa lớn, đốt cháy núi rừng, đồng nội; tháng tư đến tháng chín cũng phóng lửa; phóng lửa đến nỗi có thể cháy lan đến cả nhà cửa, phòng ốc, thành thị, thôn ấp, tăng phường, ruộng vườn và cây cối của người, cháy lan đến vật quỉ thần, vật công hữu. Nhưng hết thảy đều là vật có chủ, không được cố ý thi굠đốt. Nếu cố ý thi굠đốt thì phạm tội khinh cấu.

(15. không được chỉ dạy sai lệch)

Phật tử thì với những người cùng là Phật tử như mình, với ngoại đạo, với kẻ ác, với bà con, với những người quen biết tốt, với ai cũng hướng dẫn cho họ thọ trì kinh luật đại thừa, hướng dẫn cho họ lý giải được nghĩa ý của kinh luật ấy, làm cho họ phát bồ đề tâm; mười tâm phát thú, mười tâm trưởng dưỡng, mười tâm kim cang, ba mươi tâm ấy nhất nhất hướng dẫn cho họ hiểu rõ pháp dụng thứ tự. Nếu là Bồ tát mà vì tâm lý xấu xa, tâm lý hiềm ghét, một cách rất vô lý chỉ dạy cho người kinh luật của nhị thừa thanh văn và học thuyết của ngoại đạo tà kiến thì phạm tội khinh cấu.

(16. không được nói pháp rối loạn)

Phật tử thì bằng tâm nguyện tốt đẹp, trước tiên học tập uy nghi và giới pháp của kinh luật đại thừa, lý giải một cách sâu rộng nghĩa lý và ý vị của uy nghi và giới pháp ấy. Rồi thấy các vị Bồ tát mới học mà có người từ trăm dặm ngàn dặm đến cầu học kinh luật đại thừa, thì phải nói cho họ, một cách đúng như chánh pháp, về những khổ hạnh như thi굠đốt thân phần, cánh tay, ngón tay. Nếu thấy họ tỏ ý e ngại sự thi굠đốt ấy, mặc d?73;ãđược bảo là thiêu đốt để hiến lꮠchư Phật đi nữa, thì biết không phải là Bồ tát xuất gia; Bồ tát xuất gia thì dẫu đến hổ lang, sư tử và quỉ thần đang đói, cũng nꮠxả thịt hay tay chân của mình mà cung cấp. Sau khi nói những pháp khổ hạnh rồi, nhất nhất tuần tự nói cho họ về giới pháp chính yếu, làm cho tâm của họ mở rộng, ý của họ giải tỏa. Nếu là Bồ tát mà vì ý niệm lợi lộc nên điều đáng giải đáp không giải đáp, nói một cách rối loạn vãn nghĩa của kinh luật đại thừa, không có thứ tự trước sau, nói tóm, nói một cách phỉ báng Tam bảo, thì phạm tội khinh cấu.

(17. không được ỷ thế ham cầu)

Phật tử nếu tự mình vì đồ ãn, vì thức uống, vì tiền của, vì quyền lợi, vì danh vọng, thân cận với quốc vương, vương tử, tể tướng, bách quan, rồi ỷ thế làm oai, yêu sách, hành hung, chiếm đoạt tiền tài sản vật của người một cách ngang ngược; nhưng mọi sự cầu lợi như vậy là ham cầu tàn ác, ham cầu quá đáng, vậy mà còn chỉ bảo kẻ khác ham cầu nữa, không còn gì là từ bi, là hiếu thuận, thì phạm tội khinh cấu.

(18. không được m?7901; làm thầy)

Phật tử nếu học và tụng Bồ tát giới thì ngày đêm sáu buổi nắm giữ giới ấy trong trí, lý giải ý nghĩa giới ấy, nghĩa là lý giải về tánh của Phật tánh. Là Bồ tát mà không lý giải được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, lý do của giới pháp cũng không rành, lại nói dối trá rằng lý giải được, như vậy là tự lừa đảo mình và lừa đảo người khác. Nên, nhất nhất mù mờ, giới pháp giáo pháp nào cũng không hiểu, vậy mà làm pháp sư truyền thọ giới pháp cho kẻ khác, thì phạm tội khinh cấu.

(19. không được phỉ báng giữ giới)

Phật tử nếu vì tâm lý xấu và ác, thấy vị tỷ kheo giữ giới tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh, mà đâm thọc bên này bên kia, phỉ báng vu khống người thánh thiện, không từ điều xấu nào mà không dựng đứng lên, thì phạm tội khinh cấu.

(20. không được không cứu phóng sinh)

Phật tử thì phải đem tâm từ bi mà thực hành sự phóng sinh. Phải nghĩ như vầy: tất cả nam tính là cha ta, tất cả nữ tính là mẹ ta, ta đời đời kiếp kiếp không khi nào không sinh ra từ cha mẹ ấy. Nên sáu đường chúng sinh đều là cha mẹ của ta, ta giết mà ăn là giết mà ăn cha mẹ của mình. Lại cũng giết mà ăn chính thân cũ của mình, vì lẽ hết thảy thể cứng thể lỏng và sức nóng sức động toàn là thân thể cũ của ta. Vì nghĩ như vậy nên thường phóng sinh. Đời đời thọ sinh, đó cũng là một sự thực có tính cách bất biến, nên càng phải chỉ bảo khuyến khích mọi người phóng sinh. Khi thấy thế nhân tàn sát sinh vật thì phải tìm cách cứu hộ, giải thoát khổ nạn cho chúng. Rồi thời thường phải giáo hóa, giảng nói Bồ tát giới cho người để cứu hộ chúng sinh. Gặp ngày chết của cha mẹ anh em thì phải cung thỉnh pháp sư diễn giảng kinh luật của Bồ tát giới. Cái phước ấy giúp cho người chết được thấy chư Phật, hoặc sinh trong nhân loại hay trꮠchư thiên. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Mười giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong phẩm Diệt trừ tội lỗi Như lai sẽ nói rộng rãi về mỗi một giới pháp ấy.

(21. không được giận dữ báo th?ont>

Phật tử thì không được đem sự giận dữ trả lại sự giận dữ, không được đem sự đánh đập trả lại sự đánh đập, cũng không được giữ tâm niệm trả th? những kẻ tàn sát cha mẹ anh em bà con của mình hay những kẻ sát hại quốc chúa. Tàn sát sự sống để trả thù sự sống là điều không thuận với đạo hiếu. Không nuôi nô bộc tỳ thiếp mà đánh đập mắng chưởi, ngày ngày ba nghiệp bùng dậy, nhất là tội lỗi khẩu nghiệp lại càng vô lượng, huống chi cố làm đến bảy tội nghịch. Là Bồ tát xuất gia mà không có tâm từ bi, cố giữ ý niệm trả thù đến nỗi trong hàng bà con cũng quyết không tha, thì phạm tội khinh cấu.

(22. không được ki굠ngạo không học)

Phật tử nếu mới xuất gia, chưa lý giải gì, mà tự thị thông minh, tự thị cao sang, tự thị tuổi tác, tự thị dòng họ, tự thị giai cấp, kiến thức to lớn, phước đức to lớn, giàu có to lớn, đủ cả thất bảo, ỷ thị những thứ ấy mà kiêu ngạo, không chịu học hỏi kinh luật với các vị pháp sư đã học hỏi trước mình. Các vị pháp sư ấy có thể có người dòng họ nhỏ, tuổi tác nhỏ, giai cấp nhỏ, nghèo nàn, thấp thỏi, các giác quan không hoàn chỉnh, nhưng thật là người có đức, lý giải thấu đáo hết thảy kinh luật. Nếu các vị Bồ tát mới học mà dòm ngó dòng họ và giai cấp, không chịu đến học hỏi đệ nhất nghĩa nơi vị pháp sư ấy, thì phạm tội khinh cấu.

(23. không được không truyền kinh giới)

Phật tử nếu, sau khi Như lai nhập niết bàn rồi, muốn đem tâm nguyện tốt đẹp l㮨 thọ Bồ tát giới mà bằng cách tự nguyện lãnh thọ giới ấy trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, thì phải bảy ngày sám hối trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, hễ thấy được tướng tốt thì thọ giới là được giới. Nếu chưa thấy được tướng tốt, thì phải hai lần hay ba lần bảy ngày, cho đến một nãm, phải sám hối cho thấy được tướng tốt. Thấy được tướng tốt rồi thì có thể thọ giới trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát. Nếu không thấy được tướng tốt, thì dẫu thọ giới trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, cũng không thể gọi là được giới. Nếu l㮨 thọ Bồ tát giới bằng cách hiện diện đối trước vị pháp sư đãthọ giới ấy trước mình, thì không cần phải thấy được tướng tốt, tại sao, vì vị pháp sư ấy đã do các vị pháp sư trước nữa truyền giới cho nhau, và nay truyền lại cho mình, nên không bắt buộc phải thấy tướng tốt. Và thọ giới trước vị pháp sư như vậy thì được giới liền, được bởi cái tâm c?ực cẩn trọng phát sinh trong lúc ấy. Nếu trong vòng ngàn dặm, không ai có thể làm vị pháp sư truyền thọ Bồ tát giới, thì người muốn thọ giới ấy có thể tự nguyện mà lãnh thọ trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, nhưng với điều kiện phải sám hối thấy được tướng tốt. Nếu là vị pháp sư mà tự thị sự lý giải của mình đối với kinh luật và giới pháp đại thừa, chỉ làm bạn với quốc vương, vương tử và bách quan, còn các vị Bồ tát mới học đến xin hỏi hoặc nghĩa ý của khế kinh, hoặc nghĩa ý của giới luật, vị pháp sư ấy vì tâm lý khinh miệt, tâm lý xấu xa, tâm lý kiêu ngạo, không nhất nhất giải đáp một cách tốt đẹp những câu của họ thưa hỏi, thì phạm tội khinh cấu.

(24. không được học các sách khác)

Phật tử nếu có chánh pháp đại thừa trong kinh luật Như lai đãdạy, chánh pháp đủ cả chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp thân, mà không nỗ lực học hỏi tu tập, lại bỏ chánh pháp quí báu như thất bảo ấy mà học tập sách vở phủ nhận Phật tánh của nhị thừa, ngoại đạo và thế tục, như các bộ a tỳ đàm, các luận thuyết hỗn tạp, những thi vãn truyện ký, thì thế là làm mất Phật tánh, làm cản đạo nghiệp, chứ không phải thực hành Bồ tát đạo. Nếu cố ý học tập thì phạm tội khinh cấu.

(25. không được lạm dụng gây rối)

Phật tử nếu, khi Như lai nhập niết bàn rồi, làm chủ sự thuyết pháp, làm chủ sự hành đạo, làm chủ nơi tăng phường, làm chủ sự giáo hóa, làm chủ sự tọa thiền, làm chủ sự đi lại, thì phải phát sinh tâm từ bi, khéo hòa giải mọi sự mâu thuẫn, khéo hộ vệ vật của Tam bảo, đừng sử dụng vô độ như là của riêng. Nếu trái lại, làm cho Tăng chúng rối loạn vì sự tranh chấp, mặc sức sử dụng của Tam bảo, thì phạm tội khinh cấu.

(26. không được không đ㩠khách tãng)

Phật tử nếu đãở trước trong tãng phường, sau thấy các vị tỷ kheo hay tỷ kheo bồ tát, đến nơi tãng phường, đến nơi nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình, đến nơi nhà của quốc vương thiết lập, đến nơi chỗ đang kiết hạ an cư, hay nơi chỗ đang thiết lập đại hội cầu phước, thì mình là chư tăng ở trước, phải đón rước, tiễn đưa, và hiến cúng ẩm thực; phòng ở, đồ nằm, giường giây hay giường cây, mọi sự đều cung cấp. Nếu không có sẵn, thì dẫu phải bán mình, bán cả con cái, cũng gắng mà cung phụng những thứ các vị ấy cần dùng. Rồi nếu có thí chủ đến thỉnh chư tãng, thì các vị khách tãng ấy cũng có đồng phần, nꮠvị chủ tãng phường phải y theo thứ tự mà mời các vị khách tãng ấy thọ thỉnh. Nếu chư tãng ở trước chỉ thọ thỉnh riꮧ, không mời các vị khách tãng, thì vị chủ tãng phường tội lỗi vô lượng, không khác gì loài vật, không phải sa môn, không phải dòng giống họ Thích. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(27. không được thọ thỉnh riꮧ biệt)

Phật tử thì trường hợp nào cũng không được thọ thỉnh riêng biệt, thu đồ hiến cúng về cả nơi mình. Đồ hiến cúng là thuộc về chư tăng mười phương. Nếu thọ thỉnh riêng biệt thì ấy là lấy vật của chư tăng mười phương thu về nơi mình ; lại xâm phạm đến vật của Phật đà, thánh giả, đại sư, chư tãng, cha mẹ và bịnh nhân trong tám ruộng phước, vì lẽ mình chỉ dùng cho mình mà thôi, nên phạm tội khinh cấu.

(28. không được thỉnh tăng riêng biệt)

Phật tử thì dầu xuất gia thọ Bồ tát giới, dầu tại gia thọ Bồ tát giới, hay vị trí thí chủ nào, khi muốn thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện, cũng phải đến tãng phường, hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn theo thứ tự thỉnh chư tãng để hiến cúng cầu nguyện. Như vậy là thỉnh được Hiền thánh tãng mười phương. Nếu thỉnh riꮧ biệt như thế nhân, thì thỉnh năm trãm vị tãng La hán và Bồ tát, cũng không bằng thỉnh một vị tãng phàm phu trong thứ tự của chư tãng. Thỉnh riꮧ là nề nếp của ngoại đạo, bảy đức Phật không có qui chế thỉnh riꮧ. Sự ấy không thuận với đạo hiếu. Nếu cố ý thỉnh riꮧ thì phạm tội khinh cấu.

(29. không được sống bằng tà mạng)

Phật tử nếu vì độc ác và vụ lợi mà buôn bán dâm nam dâm nữ, tự tay làm đồ ãn, tự xay tự gi㬠coi tướng nam nữ, đoán mộng tốt xấu, đoán thai trai gái, làm các chú thuật, xảo thuật, luyện tập chim sãn thú sãn như luyện chim ưng, pha chế thuốc độc bằng trãm ngàn thứ độc hợp lại, độc rắn, độc vàng bạc sống, độc sâu cổ, không cịn gì là từ bi, hiếu thuận. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

(30. không được bất kính hảo thời)

Phật tử nếu vì tâm lý bất lương, chính mình phỉ báng Tam bảo bằng cách tỏ ra thiết cốt với Tam bảo, nhưng, mở miệng ra là nói về không mà việc làm thì toàn ở trong có: kinh lý cho thế nhân, vì thế nhân mà mai mối nam nữ, kết hợp sắc dục, tạo ra đủ thứ hệ lụy; sáu ngày chay trong mỗi tháng, hay ba tháng chay trong mỗi năm, cũng sát sinh trộm cướp, phá trai phạm giới, thì phạm tội khinh cấu.

Mười giới pháp nhẹ như vậy, các người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong phẩm Thiết chế giới luật Như lai đã giải thích đầy đủ.

(31. không được không cứu không chuộc)

Phật tử nếu, sau khi Như lai nhập niết bàn, trong thời kỳ dữ dội, thấy ngoại đạo và những kẻ tàn ác, những kẻ đạo tặc, chiếm đoạt và đem bán hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, những hình tượng mà mình tôn thờ như cha mẹ, bán kinh bán luật, bán các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni, bán bồ tát mới phát bồ đề tâm, cho quan lại sai sử hay cho kẻ khác làm nô bộc tỳ thiếp - Nếu là Bồ tát thì thấy những sự tình ấy phải phát sinh tâm từ bi, tìm mọi phương cách mà cứu hộ, đi khắp nơi khuyến hóa mọi người để kiếm tiền của mà chuộc hình tượng của Phật đà và Bồ tát, chuộc các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni, và bồ tát mới phát tâm, chuộc kinh chuộc luật. Nếu không chuộc như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(32. không được tổn hại chúng sinh)

Phật tử thì không được cất chứa buôn bán dao gậy cung tên, buôn bán bình thường mà dùng dụng cụ cân lường nhẹ và nhỏ, dựa vào uy thế của quan quyền mà chiếm đoạt tài vật của người, giam cầm và phá hoại sự thành công của người bằng tâm địa độc hại, nuôi lớn những loài mèo chồn heo chó. Nếu cố ý làm những việc như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(33. không được tà tâm làm quấy)

Phật tử thì không được bằng tâm lý đen tối mà xem sự đấu sức của nam nữ, của quân trận, của tướng sĩ, của giặc cướp ... Không được xem nghe ca vũ, không được cờ bạc, không được bói toán, không được làm liên lạc cho đạo tặc. Những việc như vậy nhất nhất không được làm. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

(34. không được rời bồ đề tâm)

Phật tử thì phải nghiêm trì giới pháp, bằng cách trong mọi cử động đi đứng nằm ngồi và ngày đêm sáu buổi đều phải đọc tụng giới pháp ấy, và giữ với lòng bền chắc như ngọc kim cương, giữ như giữ chiếc phao nổi khi bơi qua biển cả, giữ với quyết chí của vị tỷ kheo bị buộc bằng cỏ, vĩnh viễn phát sinh nơi mình đức tin cao đẹp của đại thừa, là tự biết chắc mình là Phật sẽ thành như chư Phật là Phật đã thành, tâm bồ đề không một thoáng nào rời khỏi tâm trí. Như vậy mà nếu nổi lên một ý niệm của tâm lý nhị thừa hay ngoại đạo thì phạm tội khinh cấu.

(35. không được không phát đại nguyện)

Phật tử thì phải thường phát khởi mọi lời nguyện, như nguyện hiếu thuận cha mẹ, đại sư, chư tãng, Tam bảo; nguyện gặp được vị pháp sư tuyệt hảo và các vị thiện tri thức đồng một sở học, để luôn luôn dạy cho mình kinh luật đại thừa và các bồ tát vị là mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười kim cang và mười địa, làm cho mình lý giải và thực hành chính xác ; nguyện kiên trì giới pháp của Phật, dầu phải mất tánh mạng đi nữa, một thoáng cũng không để rơi mất khỏi tâm trí cái niệm kiꮠtrì ấy. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi mọi lời nguyện như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(36. không được không phát đại thệ)

Phật tử thì phát khởi mười lời nguyền rộng lớn rồi, để kiên trì giới pháp của Phật, lại có những lời thề như sau. Thà đem thân này gieo xuống hố lửa, núi dao, quyết không phá hủy giới pháp của tam thế chư Phật bằng cách làm sự bất tịnh với bất cứ nữ nhân nào. Lại thề rằng thà bị lưới sắt nóng ngàn lớp quấn lấy thân thể, quyết không đem cái thân phá giới mà mặc y phục của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà miệng phải nuốt viên sắt nóng hay dòng lửa dữ đến cả trãm ngàn đời, quyết không đem cái miệng phá giới mà ăn thực phẩm của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này phải nằm trong lưới sắt đỏ hay trên đất sắt nóng, quyết không đem cái thân phá giới mà nằm ngồi giường ghế của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này một đời vài đời chịu hàng trãm mũi giáo đâm vào, quyết không đem cái thân phá giới mà dùng dược phẩm của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này gieo vào vạc sắt nóng đến cả trãm ngàn đời, quyết không đem cái thân phá giới mà ở phòng ốc, nhà cửa, vườn tược và đất đai của tín đồ hiến cúng. Lại thề rằng thà thân này bị chùy sắt giáng đập từ đầu đến chân nát như bụi nhỏ, quyết không đem cái thân phá giới mà nhận sự cung kính lễ bái của tín đồ. Lại thề rằng thà bị cả trãm cả ngàn khí cụ bằng sắt nóng móc mất đôi mắt đi, quyết không đem đôi mắt ấy với tâm phá giới mà nhìn vào sắc đẹp; thề rằng thà một đời hai đời bị cả trãm cả ngàn dùi sắt đâm vào hai tai, quyết không đem hai tai ấy với tâm phá giới mà nghe đến tiếng hay; thề rằng thà bị cả trăm cả ngàn dao bén cắt mất mũi đi, quyết không đem cái mũi ấy với tâm phá giới mà ngửi đến hơi thơm; thề rằng thà cái lưỡi bị cả trãm cả ngàn dao bén cắt đứt, quyết không đem cái lưỡi ấy với tâm phá giới mà nếm vào mùi ngon; thề rằng thà thân này bị chặt bị xả bởi búa sắc, quyết không đem cái thân ấy với tâm phá giới mà chạm vào chỗ ưa thích. Lại phát khởi lời thề như sau, thề làm cho hết thảy chúng sinh đều thành Phật đà. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi những lời thề như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(37. không được mạo hiểm tai nạn)

Phật tử thì thường mỗi nãm phải có hai kỳ thực hành đầu đà, mùa đông mùa hạ phải tọa thiền an cư. Thực hành đầu đà thì thường dùng nhánh dương để làm tăm, đậu để rửa, ba pháp y, bình, bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương, đ㹠lọc nước, khãn tay, dao con, đồ lấy lửa, nhíp, giường giây, kinh luật Bồ tát giới và tượng Phật Bồ tát. Là Bồ tát thì khi thực hành đầu đà và khi đi du hóa, dầu đi lại cả trãm dặm ngàn dặm đi nữa, mười tám vật ấy vẫn thường mang theo mình. Hai kỳ đầu đà là từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba, từ rằm tháng tám đến rằm tháng mười, trong hai kỳ ấy, mười tám vật cũng thường mang theo mình như hai cái cánh với con chim. Bố tát tụng giới thì các vị Bồ tát mới học đã phải nửa tháng nửa tháng bố tát, tụng mười giới nặng và bốn mươi tám giới nhẹ ; khi tụng thì đối trước tượng Phật Bồ tát mà tụng; một người bố tát thì một người tụng, mà hai ba cho đến hàng trăm hàng ngàn người cũng chỉ một người tụng ; người tụng ngồi cao, người nghe ngồi thấp, ai cũng mang pháp y chín điều bảy điều hay nãm điều. Kiết hạ an cư thì nhất nhất phải làm cho đúng phép. Khi thực hành đầu đà thì đừng đến chỗ tai nạn ; chỗ nguy hiểm, chỗ quốc chúa tàn bạo, chỗ đất quá cao thấp, chỗ cây cỏ rậm rạp, chỗ cọp beo sư tử, chỗ hay bị nạn nước lửa gió, chỗ có đạo tặc, chỗ đường sá đầy rắn độc, những chỗ tai nạn như vậy đều không được đến đó. Thực hành đầu đà, cho đến kiết hạ an cư, đều không được đến ở những chỗ tai nạn như vậy. Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh cấu.

(38. không được ngồi không thứ tự)

Phật tử thì sự ngồi phải có thứ tự đúng như chánh pháp, nghĩa là ai thọ giới trước thì ngồi trước, ai thọ giới sau thì ngồi sau. Không kể già trẻ, tỷ kheo tỷ kheo ni, quí nhân quốc vương vương tử, cho đến hoàng môn nô bộc tỳ thiếp, tất cả đều nên ai thọ giới trước ngồi trước, ai thọ giới sau thì tuần tự mà ngồi. Đừng như ngoại đạo ngu si, già cũng như trẻ không trước không sau, ngồi hỗn tạp như binh nô. Trong chánh pháp của Như lai, người trước ngồi trước, người sau ngồi sau. Nếu là Bồ tát mà ai nấy không ngồi theo thứ tự đúng như chánh pháp, thì phạm tội khinh cấu.

(39. không được không làm lợi lạc)

Phật tử thì thường khuyến hóa mọi người kiến thiết tăng phường, tạo lập núi rừng, ruộng vườn, xây dựng tháp Phật, thiết lập những chỗ để m?273;ông m?#7841; tọa thiền an cư, nói tóm, tất cả những cơ sở hành đạo đều nên kiến thiết. Là Bồ tát thì lại phải diễn giảng cho mọi người về kinh luật đại thừa. Những lúc tật bịnh, quốc nạn, giặc giã, những ngày mạng vong của cha mẹ, anh em, của đại sư hòa thượng và đại sư xà lê thì từ ngày ấy cho đến ngày tam thất và chung thất, cũng nên trì tụng và diễn giảng kinh luật đại thừa. Những lúc làm chay cầu phước, đi lại làm ăn mà có thể bị lửa dữ thiêu đốt, nước lớn trôi chìm, gió bão thổi bạt thuyền bè nguy khốn trong sông to biển cả đầy nạn la sát, thì trước đó cũng nên đọc tụng giảng nói kinh luật đại thừa. Cho đến hết thảy khổ báo là ba ác, bảy nghịch, tám nạn, gông cùm, xiềng xích, trói buộc, đa dâm, đa sân, đa si, đa bịnh, đều nꮠgiảng nói kinh luật đại thừa. Nếu vị Bồ tát mới học không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Chín giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính phụng trì, như Như lai sẽ nói rõ trong phẩm Phạn đàn.

(40. không được chọn lựa truyền giới)

Phật tử thì khi cho người thọ Bồ tát giới không được chọn lựa. Hết thảy quốc vương, vương tử, tể tướng bách quan, tỷ kheo tỷ kheo ni, thiện nam tín nữ, dâm nam dâm nữ, phạn thiên mười tám tầng trời cõi Sắc, thiên nhân sáu tầng trời cõi Dục, những kẻ vô căn, hai cãn, hoàng môn, nô bộc, tỳ thiếp, tất cả quỉ thần, ai cũng được thọ Bồ tát giới cả. Phải dạy người thọ Bồ tát giới nhuộm pháp y bằng hoại sắc cho hợp với chánh pháp. Hoại sắc là nhuộm tất cả pháp y và ngọa cụ bằng màu sắc phá hủy các màu sắc chính là xanh vàng đỏ trắng đen tía. Mọi thứ y phục khác cũng nhuộm hoại sắc như vậy. Nói tổng quát, tại bất cứ quốc độ nào, dân chúng ở đó ãn mặc ra sao thì vị tỷ kheo ãn mặc phải khác với lối ãn mặc ấy. Khi sắp thọ Bồ tát giới, vị pháp sư bồ tát phải xét hỏi người ấy, rằng thân hiện tại có làm bảy tội nghịch không ? Vị pháp sư bồ tát không được cho những người thân hiện tại làm bảy tội nghịch được thọ Bồ tát giới. Bảy tội nghịch là làm cho thân Phật xuất huyết, giết cha, giết mẹ, giết hòa thượng, giết xà lê, phá kiết ma tăng và pháp luân tăng, giết thánh giả. Nếu có bảy tội nghịch thì kẻ ấy thân hiện tại không thể được Bồ tát giới. Ngoài ra, ai cũng có thể thọ và được giới ấy. Cái phép của người xuất gia là không lạy quốc vương, không lạy cha mẹ, không lạy bà con, không lạy quỉ thần, nên không thiên vị hoặc khước từ ai hết, hễ ai hiểu được tiếng nói của vị pháp sư bồ tát, từ trãm dặm ngàn dặm vẫn đến cầu Bồ tát giới, mà vị pháp sư ấy vì tâm lý xâu xa, tâm lý ghét giận, không truyền ngay cho họ giới pháp mà tất cả chúng sinh đều có phần thì phạm tội khinh cấu.

(41. không được vụ lợi làm thầy)

Phật tử nếu giáo hóa cho người phát sinh đức tin đại thừa rồi, mình là Bồ tát làm vị pháp sư chỉ bảo cho người, thì thấy người ấy muốn thọ Bồ tát giới, mình phải chỉ bảo cách thỉnh hai vị đại sư là hòa thượng và xà lê. Hai vị đại sư phải hỏi người ấy có hay không có phạm bảy tội nghịch là bảy tội cản trở sự thọ và được Bồ tát giới. Nếu thân hiện tại phạm bảy tội nghịch thì vị pháp sư không được cho người ấy thọ Bồ tát giới ; nếu không phạm bảy tội nghịch thì được cho họ thọ. Nếu người nào phạm mười giới pháp nặng thì phải chỉ bảo người ấy sám hối bằng cách đối trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, ngày đêm sáu buổi tụng mười giới pháp nặng và bốn mươi tám giới pháp nhẹ, cực kỳ khẩn thiết lễ bái ba ngàn đức Phật thuộc ba thì gian quá khứ hiện tại và vị lai, cầu cho thấy được tướng tốt. Dầu một lần bảy ngày hay ba lần bảy ngày, cho đến một nãm, cũng phải làm sao cho thấy được tướng tốt. Tướng tốt là thấy được Phật đến xoa trꮠđỉnh đầu, thấy ánh sáng của Phật, thấy hoa sen của Phật, hoặc thấy các tướng kỳ lạ khác, thì tội lỗi tức thì tan biến. Nếu không thấy được những tướng tốt như vậy thì dẫu sám hối cũng không có cái ích lợi làm cho người ấy thân hiện tại được lại giới pháp, nhưng có cái ích lợi thọ lại giới pháp ấy. Nếu ai phạm bốn mươi tám giới pháp nhẹ thì chỉ bảo người ấy sám hối bằng cách đối diện mà phát lộ, thì tội lỗi tức thì tan biến. Phạm giới nặng hay nhẹ đều không như bảy tội nghịch. Làm pháp sư chỉ bảo thì trong các cách trên đây nhất nhất phải thấu hiểu. Nếu không thấu hiểu sự đúng sai và tội nặng nhẹ của giới pháp đại thừa, không lý giải đệ nhất nghĩa đế, tập chủng tánh, trưởng dưỡng tánh, bất hoại tánh, đạo chủng tánh, chánh pháp tánh, trong tất cả các tánh của Bồ tát vị như vậy không thấu r?án hạnh nhiều ít và ra vào như thế nào, cho đến mười thành phần thiền định và bao nhiêu pháp hạnh khác, cũng nhất nhất không thấu hiểu nghĩa ý trong đó ; mà, là Bồ tát, lại vì quyền lợi, vì danh vọng, vì ham hố đồ đệ với tâm lý ham cầu xấu xa và quá đáng, làm ra như thấu hiểu tất cả, thì ấy là tự lừa dối mình lại lừa dối kẻ khác. Vậy mà cố ý truyền Bồ tát giới cho người thì phạm tội khinh cấu.

(42. không được thuyết giới ác nhân)

Phật tử thì không được vì quyền lợi mà nói giới pháp vĩ đại của hàng ngàn đức Phật trước những kẻ chưa thọ giới Bồ tát giới, những kẻ ngoại đạo và ác nhân. Trước những kẻ phủ nhận Phật tánh cũng không được nói. Trừ quốc vương, không được nói với ai cả. Những kẻ ngoại đạo và ác nhân không lãnh thọ giới pháp của chư Phật thì như loài vật, đời đời sinh ra ở đâu cũng không gặp được Phật pháp tãng, như cây như đá không có tâm hồn, nꮠgọi là ngoại đạo và ác nhân. Còn những kẻ phủ nhận Phật tánh thì khác gì đầu gỗ. Là Bồ tát mà trước những kẻ như vậy nói đến giáo pháp và giới pháp của bảy đức Phật đà thì phạm tội khinh cấu.

(43. không được cố tâm phạm giới).

Phật tử nếu đãđem đức tin đại thừa mà xuất gia và lãnh thọ giới pháp chính yếu của chư Phật rồi, lại cố ý sinh tâm vi phạm giới pháp phát sinh tuệ giác vô lậu như vậy, thì không nên nhận mọi sự hiến cúng của thí chủ, không đáng đi đất của quốc gia, uống nước của quốc gia. Cả nãm ngàn quỉ dữ thường án trước mặt kẻ ấy mà bảo với nhau, rằng đó là tên giặc lớn. Vào phòng ốc, thành thị, thôn ấp, nhà cửa, thì bọn quỉ thường quét dấu chân của người ấy đi. Thế nhân ai cũng nhục mạ, rằng đó là tên giặc trong Phật pháp. Chúng sinh không ai muốn nhìn. Kẻ phạm giới có khác gì loài vật, đầu gỗ. Nếu cố ý vi phạm giới pháp chính yếu của chư Phật thì phạm tội khinh cấu.

(44. không được không trọng kinh luật)

Phật tử thì thường phải nhất tâm mà thọ trì đọc tụng kinh luật đại thừa, lột da làm giấy, thích huyết làm mực, rút tủy làm nước, chẻ xương làm bút, để sao chép giới pháp của chư Phật. Lại sao chép mà giữ bằng giấy vỏ cây như giấy gió, giấy dạ, bằng lụa, lụa trắng, lụa tơ trần, bằng thẻ tre. Rồi thường đem bảy thứ quí báu, hay những thứ tạp ngọc vô giá, thơm và đẹp, làm hộp làm đãy mà tôn trí kinh luật đại thừa ấy. Nếu không hiến cúng đúng cách như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(45. không được không có giáo hóa)

Phật tử thì tâm đại bi phải thường xuyên nổi dậy, khi vào những nơi thành thị, thôn ấp hay nhà cửa, thấy bất cứ ai cũng đều nói lên như thế này : các người nên lãnh thọ ba qui y và mười giới pháp. Nếu thấy tất cả cầm thú thì bất cứ bò ngựa heo dê, đều nên tâm nghĩ miệng nói như sau : cầm thú các con, các con nên phát bồ đề tâm. Là Bồ tát thì đến bất cứ chỗ nào, dầu là núi non, rừng rú hay khe suối, đồng nội, cũng làm cho hết thảy chúng sinh phát bồ đề tâm. Nếu Bồ tát mà không giáo hóa chúng sinh như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(46. không được thuyết không đúng phép)

Phật tử thì thường đi giáo hóa với tâm niệm đại bi mà mình thường phát khởi. Nhưng, dẫu vào nhà tín đồ hay nhà quyền quí, đối với bất cứ tập thể nào, người xuất gia cũng không được đứng mà thuyết pháp cho người tại gia. Phải ngồi lên chỗ cao, ở trước mặt họ. Pháp sư tỷ kheo thì dẫu thuyết pháp cho cả bốn chúng, cũng không được đứng đất mà nói. Khi thuyết pháp thì vị pháp sư phải được mời ngồi chỗ cao, hương hoa hiến cúng ; còn bốn chúng thính giả thì ngồi chỗ thấp, bằng ý niệm như hiếu thuận đối với cha mẹ mà kính thuận những lời giáo huấn của vị pháp sư, lại kính thuận liên tục như các đạo sĩ thờ lửa giữ lửa không tắt. Nếu người thuyết pháp mà thuyết không đúng phép như vậy thì phạm tội khinh cấu.

(47. không được kềm chế phi lý)

Phật tử như quốc vương, thái tử, bách quan hay bốn bộ, đãđem đức tin đại thừa l㮨 thọ giới pháp của chư Phật rồi, lại tự thị quyền quí cao sang mà phá hoại giáo pháp và giới pháp của Như lai, bằng cách đặt ra qui chế để kềm chế bốn bộ đệ tử của Như lai, không cho họ xuất gia, hành đạo, cũng không cho họ tạo lập hình tượng, chùa tháp và truyền bá kinh luật. Lại đặt chức thống quản để chế ngự chư tãng, lập sách tịch để kiểm kꠣhư tãng. Tỷ kheo bồ tát thì để cho đứng đất, bạch y cư sĩ lại tự ngồi chỗ cao, làm nhiều điều phi chánh pháp, tạo thành tình trạng như bắt binh nô thờ chủ. Nhưng tỷ kheo bồ tát chính là bậc để cho mọi người kính trọng, có đâu lại bị đem làm kẻ sai sử cho quan quyền một cách trái với giáo pháp, trái với giới pháp. Nếu hàng quốc vương bách quan đã đem tâm lý tốt đẹp lãnh thọ giới pháp của chư Phật rồi, thì đừng làm những tội lỗi phá hoại Tam bảo như vậy. Nếu cố ý làm những biện pháp phá hoại Tam bảo thì phạm tội khinh cấu.

(48. không được phá hoại đạo pháp)

Phật tử nếu đãđem tâm lý tốt đẹp mà xuất gia rồi, lại vì danh vọng và quyền lợi nên trước mặt quốc vương và bách quan, nói về giới pháp của chư Phật mà lại nói một cách rất phi lý, làm cho các vị tỷ kheo tỷ kheo ni và những người thọ Bồ tát giới bị trói buộc bằng những hình thức lao tù, những biện pháp quân dịch. Như thế đó là con sâu trong thân sư tử tự ãn thịt sư tử, không phải con sâu ở ngoài: chính những kẻ Phật tử như trên tự phá Phật pháp, không phải ngoại đạo ma vương mà phá được. Nên người lãnh thọ giới pháp của chư Phật thì phải ái hộ giới pháp ấy như người mẹ thương đứa con một, như người con thờ cha mẹ, không được vi phạm. Là Bồ tát thì khi nghe cái tiếng của ngoại đạo và ác nhân đem lời nói ác phỉ báng phá hoại giới pháp của chư Phật, lúc ấy khác nào tim mình bị ba trăm mũi nhọn đâm vào, thân mình bị ngàn lưỡi dao vạn cây gậy đánh đập chém chặt. Thà là chính mình vào trong địa ngục cả trãm kiếp, chứ không muốn một lần phải nghe cái tiếng của kẻ ác đem lời ác phỉ báng phá hoại giới pháp của chư Phật, huống chi tự phá hoại giới pháp của chư Phật bằng cách tạo điều kiện khuyến khích kẻ khác phá hoại Phật pháp, không cịn gì gọi là tâm hiếu thuận. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Chín giới pháp nhẹ như vậy, các người phải học, phải cung kính phụng trì.

Các Phật tử, bốn mươi tám giới pháp nhẹ như trên đây, các người hãy thọ trì như chư Bồ tát quá khứ đã tụng, chư Bồ tát vị lai sẽ tụng, chư Bồ tát hiện tại đang tụng.

Kết Thúc Về Phần Bồ Tát Giới - Phần Giới Pháp Vô Tận

Các Phật tử, hãy nghe cho ky? Giới pháp gồm có mười điều nặng và bốn mươi tám điều nhẹ như trên đây, các đức Phật đà trong ba thì gian đã tụng sẽ tụng và đang tụng. Như lai nay cũng tụng y như vậy. Đại chúng các người, không cứ quốc vương, vương tử, bách quan, tỷ kheo, tỷ kheo ni, thiện nam, tín nữ, hễ l㮨 thọ Bồ tát giới thì phải thọ trì, đọc, tụng, giảng thuyết và viết chép đối với cuốn kinh nói về giới pháp của Phật tánh thường trú, truyền bá cho chúng sinh trong tất cả thì gian, làm cho sự cảm hóa của giới pháp này được liên tục mãi, không bao giờ đứt đoạn. Như vậy thì các người sẽ được thấy ngàn đức Phật, đức Phật nào cũng trao tay cho, đời đời không sa vào đường dữ, tám nạn, thường sinh trong nhân loại hay chư thiꮮ Và như vậy là hôm nay, ở dưới cây bồ đề này, Như lai đã tóm tắt khai thị giới pháp của cả bảy đức Phật. Đại chúng các người hãy nhất tâm mà học giới pháp ấy, và hoan hỉ mà phụng hành, như Như lai đã nhất nhất khai thị phong phú trong phần Khuyến học của phẩm Vô tướng thiên vương. Bấy giờ ba ngàn người học tập Bồ tát đạo trong số thính giả hiện diện lúc ấy, nghe đức Thế tôn tự tụng lại giới pháp như vậy, ai cũng tâm tâm kính thuận, hoan hỉ phấn chấn mà thọ trì.

Kết Thúc Toàn Bộ Phẩm Bồ Tát Tâm Địa Giới - Phẩm Pháp Môn Tâm Địa

Bấy giờ đức Thích ca mâu ni nói xong phần Giới pháp vô tận trong phẩm Pháp môn tâm địa của đức bản thân Lô xá na ở Hoa tạng thế giới đãnói, thì một ngàn và một ngàn lần trăm ức đức Thích ca khác cũng nói y như vậy. Sự từ cung Đại tự tại thiꮠvương xuống đến cây bồ đề, trải qua mười chỗ thuyết các pháp phẩm cho hết thảy Bồ tát, và cho đại chúng nhiều đến số lượng không thể nói hết, được thọ trì, đọc tụng và giảng nói, cũng như nhau. Nói tóm, một ngàn và một ngàn lần trăm ức thế giới, Hoa tạng thế giới, và các Hoa tạng thế giới khác nhiều như vi trần, cũng diễn về tất cả kho tàng chánh pháp của chư Phật là kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng vô lượng hạnh nguyện, kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú. Và như vậy là chư Phật đã nói hoàn tất về tất cả kho tàng chánh pháp. Hết thảy chúng sinh trong một ngàn và một ngàn lần trăm ức thế giới đều thọ trì, hoan hỉ và phụng hành. Nếu khai thị một cách rộng lớn các nghĩa tướng của tâm địa thì phải như trong phẩm Phật hoa quang vương đã nói.

Phụ Lục Kết Thúc Bồ Tát Giới Bằng Vãn Chỉnh Cú

Những người thông minh thật
thì đức tính nhẫn nhịn
và khả nãng tuệ giác
cả hai đều mạnh mẽ.
Nhờ đó thọ trì được
giới pháp Bồ tát này,
từ nay đến thành Phật
thường được nãm lợi ích:
Một là được chư Phật
thương tưởng hộ trì luôn.
Hai là khi lâm chung
chánh kiến, tâm hoan hỉ.
Ba là sinh chỗ nào
cũng làm bạn Bồ tát.
Bốn là công đức tụ
giới độ thành tựu cả.
Nãm là trong đời này
và các đời sau nữa
đủ cả phước và tuệ
của giới pháp tự tánh.
Giới pháp như thế này
là sở hành của Phật,
với chỗ sở hành ấy
trí giả hãy khéo nghĩ:
Tâm hạnh như ngoại đạo
trước tướng và chấp ngã,
thì giới pháp như vầy
không thể nào tín thọ.
Tuệ giác của thanh vãn
diệt tận chứng niết bàn,
cũng không phải là chỗ
gieo giống giới pháp này.
Muốn nuôi lớn mầm mống
lúa tuệ giác bồ đề
để ánh sáng tuệ ấy
chiếu tỏa cả thế gian,
thì cần phải thường xuyên
yên tịnh tâm trí mình
mà quán sát thật tướng
của tất cả các pháp
siêu việt mọi khái niệm
đối lập nhau như sau:
phát sinh với tiêu diệt
vĩnh cửu với hư vô
đồng nhất với mâu thuẫn
xuất hiện với biến dạng.
Bằng sự quán sát ấy
nỗ lực mà trang hoàng:
việc Bồ tát phải làm
phải tuần tự học tập.
Với tất cả các vị
tu học còn tiếp tục
tu học đãhoàn tất
đừng sinh tâm phân biệt,
thì đó : đệ nhất nghĩa,
cũng gọi là đại thừa.
Mọi hý luận lầm lỗi
đều bặt dấu ở đây,
và từ đây xuất phát
trí toàn giác của Phật.
Thế nên các Phật tử
hãy nổi đại dũng mãnh:
đối với giới của Phật
giữ như giữ ngọc sáng.
Các bồ tát quá khứ
đãhọc về giới ấy,
vị lai thì sẽ học,
như hiện tại đang học.
Giới ấy chư Phật làm,
giới ấy chư Phật khen,
và tôi hôm nay đây
đãkính theo chư Phật
mà tụng lại giới pháp
phước đức vô lượng ấy,
hồi hướng cho chúng sinh
để cùng nhau xoay về
trí toàn giác của Phật,
cầu nguyện cho các vị
được nghe giới pháp này
chóng thành đạt trí Phật.
Kính lạy đức Lô xá na như lai. Kính lạy đức Thích ca mâu ni như lai. Kính lạy kho tàng Bồ tát giới Phạn võng.


HT. Thích Trí Quang
Share:

Giới Học

Giới học là một trong ba học: Giới, Định, Tuệ. Ba học còn được gọi là ba vô lậu học. Gọi là vô lậu học là vì ba học này đưa đến đoạn trừ các lậu hoặc, đưa đến giải thoát mà không phải đưa đến các phước báo sanh thiên.

Ý Nghĩa của Giới

Thông thường Giới được hiểu là ngăn ngừa điều quấy, dứt dừng điều ác ("phòng phi chỉ ác"), hoặc ngưng điều ác và làm điều thiện ("chỉ ác, tác thiện").

Trong Bát Chánh đạo, Giới là giới uẩn gồm có chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Ở đây chỉ sự ngăn ngừa các hành động lỗi lầm của thân và khẩu. Khi các hành động lỗi lầm không được làm thì tránh được nhiều sự tổn hại cho những người khác. Đây đã nói lên ý nghĩa "tác thiện" của giới.

Chữ Giới trong Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Sk: Pràtimoksa, Pàli: Patimokkha) có nghĩa là Biệt giải thoát hay Xứ xứ giải thoát, Tùy thân giải thoát. Biệt giải thoát là giải thoát từng phần: giữ giới nhiều thì giải thoát nhiều, giữ giới ít thì giải thoát ít. Tùy thuận giải thoát là giải thoát tùy thuộc vào quả hữu vi hay vô vi của người hành.

Từ điển của Rhys Davids cắt nghĩa Giới (Silà) có gốc từ ngữ căn Sìl. Ngữ căn Sìl có hai nghĩa: Upadhàranà (luân lý, đạo đức của Phật giáo, cách cư xử, tư cách đạo đức) và Samàdhi (Định, Thiền).

Từ Patimokkha thì có nghĩa là, theo cách phân tích từ ngữ, trói buộc các hành động, giữ gìn, thúc liễm các hành động của thân và khẩu không để cho rơi vào đường ác, sai lầm, tổn hại mình và người. Ví như buộc mồm trâu để ngăn nó ăn lúa mạ.

Giới trong nghĩa của ngày trai giới (Pàli: Uposatha, Sk: Upavasatha), Hán dịch là Bố-sa-tha, có nghĩa là tịnh trú, trưởng dưỡng, trưởng tịnh và thiện túc.

Tăng Chi (III-A) định nghĩa ngày trai giới là ngày thực hành hạnh sống của vị A-la-hán (chỉ giữ tám giới).

Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thế Tôn dạy: "Giới là nền tảng của bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Cần, năm Lực, bảy Bồ-đề phần và tám Thánh đạo phần. Ví như là đất là nền tảng, không có nó thì các loại động vật không thể di chuyển, cũng thế, không có Giới thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo không thể được tu tập viên mãn."

Qua các định nghĩa trên, Giới giúp cho hành giả đạt được hai mục tiêu: không làm các điều ác (chư ác mạc tác), làm các việc lành (chúng thiện phụng hành). Mục tiêu thứ ba của Phật giáo là giữ tâm ý thanh tịnh, loại bỏ hết các lậu hoặc (tự tịnh kỳ ý) và cũng là mục tiêu cứu cánh, cần phải nhờ đến định uẩn và tuệ uẩn.

Thời Gian Và Lý Do Thiết Lập Giới

Theo tài liệu sử của Edward J. Thomas trong cuốn "Đời sống của đức Phật" (The Life of Buddha), Giáo hội Ni được thành lập từ năm thứ năm sau ngày Thế Tôn thành Đạo. Do đó, qua năm thứ sáu một số giới luật đã bắt đầu hình thành, và hình thành tương đối rõ là vào năm thứ mười sau ngày Thành Đạo. Luật tạng thì ghi mãi đến năm thứ mười ba sau ngày Thành Đạo, giới luật mới hẵn nhiên được hình thành, do Tôn giả Ưu-ba-ly (Upàli) đặc trách. Bấy giờ Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Patimokkha) ra đời.

Vì sao Giới bổn không được thiết lập ngay từ năm đầu của Giáo hội? Theo truyền thống, chư Thế Tôn chỉ thiết lập các giới điều, khi nào thấy cần thiết, khi nào đầy đủ nhân duyên. Khi có một hiện tượng vi phạm gây nên một ảnh hưởng không tốt cho sinh hoạt của Tăng chúng thì Thế Tôn mới kiết giới, thành lập thêm một giới điều để ngăn ngừa hiện tượng xấu ấy xảy ra về sau. Giới bổn cũng thế, trong những năm đầu, chư Tỷ-kheo sinh hoạt thanh tịnh trong khuôn khổ của Chánh pháp nên Thế Tôn không đề cập đến Giới bổn, mà chỉ trình bày Giới dưới những hình thức đơn giản, và tổng quát nhất là hình thức hộ trì các căn, hoặc dưới hình thức chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng của Bát Chánh đạo. Mãi đến năm thứ mười ba sau ngày thành Đạo, bấy giờ có nhiều hiện tượng sinh hoạt đi ra ngoài đời sống phạm hạnh, Thế Tôn mới thành lập giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa.

Một hôm, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, do những mục đích nào các học pháp được thiết lập cho các đệ tử của Như Lai và Giới bổn Patimokkha được tuyên đọc?"

Thế Tôn dạy, do mười mục đích mà các học pháp được thiết lập và Giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc:

- Để Tăng chúng được cực thịnh,
- Để Tăng chúng được an ổn,
- Để chặn đứng các người cứng đầu,
- Để các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn,
- Để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại,
- Để chặn đứng các lậu hoặc trong tương lai,
- Để đem lại tịnh tín cho những người không tin,
- Để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin,
- Để diệu pháp được tồn tại,
- Để luật được chấp nhận. (Tăng Chi Bộ Kinh 3B, tr. 73)

Qua mười mục đích trên, Giới bổn chỉ giới hạn ở hai phần "chỉ ác" và "tác thiện" trong ba phần (chỉ ác, tác thiện và tự tịnh kỳ ý) mà Phật giáo nhắm đến.

Như thế, Giới qua Nikàya, chỉ gồm vào các giới của tại gia và xuất gia. Đây là nội dung của Nhiếp luật nghi giới hay gọi là Biệt giải thoát giới.

Nội Dung Các Loại Giới

Có nhiều hình thức phân loại giới. Cách phân loại thứ nhất, giới mang ý nghĩa rộng rãi của "Đại-thừa". Ở đây có ba loại:

- Loại một gọi là Nhiếp luật nghi giới, gồm có các giới của tại gia và xuất gia: ngũ giới, bát quan trai giới, thập thiện giới và cụ túc giới.
- Loại hai gọi là Nhiếp thiện pháp giới, lấy việc thực hành tất cả việc thiện làm giới.
- Loại ba gọi là Nhiêu ích hữu tình giới, lấy việc làm lợi ích cho tất cả chúng sanh làm giới.

Cách phân loại thứ hai cũng mang ý nghĩa rất rộng rãi của Đại thừa, gồm có:

- Biệt giải thoát giới, đấy là nội dung của Nhiếp luật nghi giới.
- Định cộng giới, là giải thoát do định sinh, lấy định làm giới. Do tu Thiền định mà thân tâm thanh tịnh, giới thể được cụ túc.
- Đạo cộng giới, là giải thoát do tuệ sinh, lấy tuệ làm giới. Do tu vô lậu nghiệp mà được trí vô lậu, giới thể được viên mãn.

Qua sự phân loại giới trên, nhiếp thiện pháp giới và nhiêu ích hữu tình giới là thuộc Đại thừa giới; biệt giải thoát giới và định cộng giới thì được gọi là hữu lậu giới; đạo cộng giới được gọi là vô lậu giới.

Luận Câu Xá thì gọi biệt giải thoát luật nghi (hay biệt giải thoát giới) là Dục giới triền giới; gọi định sanh luật nghi (hay định cộng giới) là Sắc giới triền giới; và gọi đạo sanh luật nghi (hay đạo cộng giới) là vô lậu giới.

Trong giới hạn của phần giới được trình bày ở đây, chúng ta không đi vào các chi tiết của giới, cũng không đi vào các giới luật xuất gia, mà chỉ trình bày những nét cơ bản của Giới học.

Tính Chất Và Nền Tảng Của Giới

Cứ theo từng giới cấm một, cũng như toàn thể Giới bổn, đặc biệt là mười giới căn bản chung cho cả tại gia và xuất gia liên hệ đến thân, khẩu và ý, chúng ta có thể tìm ra tính chất của giới và nền tảng trên đó Giới được thiết lập.

Ở đây, đơn cử giới "bất sát" (không được sát sanh). Căn bản của giới này là không giết người, thứ đến là không giết hại các loài chúng sinh khác. Về phần người giữ giới, khi giữ giới này thì ngăn trừ được sân tâm, nuôi dưỡng được từ tâm, khiến cho tâm được an tịnh, an lạc ngay trong hiện tại, từ đây, người giữ giới không tạo các nghiệp ác để phải chịu thọ quả khổ đau trong tương lai. Về phần các người khác và các chúng sanh khác, khi giới bất sát được giữ gìn thì đời sống của họ được thêm phần bảo đảm an toàn, an ổn, khỏi phải gánh chịu các hậu quả do lòng sân hận, ác hại của người khác gây ra trong hiện tại.

Đối với giới "bất dâm", "bất đạo", người giữ giới ngăn được lòng tham và không tạo thêm ác nghiệp gây ra khổ đau trong hiện tại và tương lai, tha nhân và các loài chúng sanh khác thì tránh được các tổn hại và sống an ổn.

Kết quả việc giữ giới như thế tựu trung tính chất của nó là đem lại an vui cho mình và cho người, điều hòa được sinh hoạt của tập thể, tạo nên lòng tin cho kẻ khác. Đem lại lợi ích an lạc và giải thoát cho tự thân người giữ giới, đấy là trí tuệ; đem lại lợi ích an lạc cho tha nhân và các loài khác, đấy là từ bi. Trí tuệ và từ bi là nền tảng trên đó Giới được thiết lập.

Hướng đi của giới là đem lại lợi ích, an lạc cho mình và người, nên giới giúp đỡ người tu tập thấy nhẹ nhàng thân và tâm, an lạc trong từng bước đi. Giới đúng nghĩa của nó, không có ý nghĩa nào trói buộc hay tù túng cả. Ngoài một số hành động, nếu làm, hẳn nhiên phá đổ hạnh thanh tịnh nên tuyệt đối bị cấm chỉ, các sinh hoạt còn lại của người tu tập giải thoát đều được tùy duyên mà châm chước, khai mở. Ngay cả trong các trường hợp bị cấm chỉ, nếu vì "nghịch duyên" mà bị rơi vào (như là "các tai nạn" liên hệ giới xảy đến), ngoài sự tác ý của hành giả, thì sẽ không phạm, nếu người bị nạn không khởi lên tham tâm hay sân tâm tùy thuận theo sự kiện đang xảy ra (ví dụ bị cưỡng hiếp, nếu không khởi lên lạc tâm thì không phạm).

Về các giới trọng thì tính chất khai mở của chúng còn có phần hạn chế, nhưng với các giới nhẹ thì tánh chất của chúng rất là cởi mở, linh động, phóng khoáng.

Luật tạng ghi rằng một lần các Phật tử và ngoại đạo chê trách các vị Tỳ-kheo đứng mà tiểu tiện, cho rằng cung cách đó là thô tháo, thiếu lịch nhã. Khi sự việc này được trình lên Thế Tôn, Thế Tôn bèn dạy: "Vậy thì từ nay các Tỷ-kheo, ngồi mà tiểu tiện". Nhưng ở một quốc độ khác, khi chư Tỷ-kheo ngồi tiểu tiện thì lại bị chê rằng các đệ tử của Thế Tôn toàn là nữ giới. Khi sự việc này trình lên Thế Tôn, Thế Tôn lại dạy: "Nếu vậy, thì đứng mà tiểu vậy." Thế có nghĩa là tùy theo quốc độ, tùy theo văn hóa mà thích ứng. Đấy là một trường hợp điển hình nói lên tính chất linh động và cởi mở của Giới.

Như vậy giới trong giáo lý Phật giáo, không mang tính cố chấp, cứng nhắc như là giới điều (dogma) của các Tôn giáo khác, mà mang nghĩa tự nguyện, thiết thực đem lại lợi ích cho mình và người, nhằm nuôi dưỡng và phát triển tín tâm của mình và người.

Vị Trí Của Giới Trong Hệ Thống Giáo Lý Phật Giáo

Trường Bộ Kinh và Trường A-hàm đề cập đến Giới nhiều hơn là các bộ Kinh còn lại. Điển hình là Kinh Phạm Võng (của Nikàya) và Kinh Phạm Động (của Trường A-hàm) xác định rõ vị trí của Giới trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Trong hai kinh này, Thế Tôn xác nhận chỉ có các kẻ phàm phu mới ca ngợi, tán thán Như Lai về Giới đức. Lời ca ngợi, tán thán Như Lai như thật chân chánh là ca ngợi, tán thán về Tuệ đức: -- "Như Lai đã chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết các pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt khỏi tầm luận lý suông, rất tế nhị, chỉ có các bậc trí tuệ mới nhận hiểu."

Qua lời xác nhận ấy của Thế Tôn, ta thấy Giới chỉ mới là bước đi căn bản (Giới, Định, Tuệ) của Phật giáo. Thực sự nói rõ hơn, Giới chỉ là bước đầu của năm bước đi: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến (tri kiến biết rằng đã giải thoát).

Giới là bước đi đầu, nhưng là bước đi nền tảng. Nếu hành giả rơi vào giới cấm thủ (giữ giới sai lạc của ngoại đạo), hỏng từ bước đi đầu này, thì không thể nào thực hiện được bốn bước đi kế tiếp.

Đấy là ý nghĩa của từ ngữ Giới trong Nikàya và A-hàm.

Qua đến Bắc tạng (Đại thừa) thì từ Giới mang ý nghĩa rộng rãi bao la hơn: Giới bao gồm cả Định và Tuệ. Biệt giải thoát giới (hay Nhiếp luật nghi giới) và Định cộng giới là thuộc hữu lậu giới, Đạo cộng giới thuộc về Tuệ giải thoát hay vô lậu giới.

Đại Tạng Bát-nhã thì xếp Giới vào một trong sáu chi phần tu tập của Bồ-tát gọi là "Lục Ba-la-mật". Giới Ba-la-mật thì đã đồng nghĩa với đoạn trừ hết chấp thủ tướng, hay đồng nghĩa với đoạn trừ hết lậu hoặc, đây là Tuệ giải thoát.

Tuy có cái nhìn khác nhau trong sự phân loại và trình bày về Giới học của Nam tạng và Bắc tạng, nhưng nếu chúng ta nhình kỹ vào nội dung thì thấy rõ không có sự mâu thuẩn thực sự nào cả. Nam tạng thì trình bày giới hạn Giới ở mức độ như đã trình bày, qua giới hạn đó thì Nam tạng bàn đến phần Định và Tuệ. Sự phân ranh giới hạn này có tính cách hình thức và quy ước hơn là nội dung tâm thức của người hành trì giới. Ở Bắc tạng, thì Định và Tuệ có thể cùng được tu chung với Giới; ở người hành trì Giới, đạt đến giới Ba-la-mật hẳn là đòi hỏi người hành trì Giới phải có đầy đủ Định và Tuệ. Thiếu Định và Tuệ thì hành giả không thể nào đạt được kết quả hành giới mà ly hết thảy các tướng chấp thủ.

Thực sự, cả Nam tạng lẫn Bắc tạng đều xác nhận không thể tách rời riêng rẽ Giới, Định, Tuệ. Nhìn vào tám chi phần trong Bát Chánh đạo thì thấy hiển nhiên điều đó. Giới (hay chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) không thể gọi là Chánh giới, nếu không có mặt của Tuệ (chánh kiến và chánh tư duy). Thực hiện Giới cũng chính là thực hiện Tuệ, thực hiện Tuệ cũng chính là thực hiện viên mãn Giới.

Hiểu Ý Nghĩa Đúng Đắn Của Giới Và Phạm Giới

Vấn đề phạm giới đưa đến kết quả nặng, nhẹ khác nhau giữa những người tu tập có tâm lý giải thoát khác nhau, dù họ phạm cùng một lỗi. Hậu quả họ đón nhận cũng khác nhau trong hiện tại và tương lai.

Phẩm Hạt Muối (Tăng Chi Bộ Kinh I) ghi sự cắt nghĩa rõ ràng của Thế Tôn về trường hợp này. Một người dân đen đánh trộm một con dê của một nhà giàu, có thế lực có thể bị đánh đập đổ máu ngay tại chỗ và bị tù tội. Nhưng một đại quan của triều đình bắt trộm một con dê của nhà giàu, có thế lực ấy thì không bị đánh đập, cũng không bị tù tội. Ví như một nắm muối thả vào một hồ nước lớn hay con sông lớn thì độ mặn không đáng kể, nhưng nếu để nắm muối ấy vào một ghè nước thì độ mặn lại đáng kể. Cũng thế, cùng phạm một tội, với người tâm tư bủn xỉn, không tu tập Giới, Định, Tuệ thì kết quả có thể đi vào địa ngục; nhưng với người có tu tập Giới, Định, Tuệ, có từ tâm rộng rãi thì xem qua như kết quả không có (triệt tiêu).

Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt (Trung Bộ Kinh III) trình bày, một người có chánh kiến và chánh tín trước lúc chết có thể sang Thiên giới dù trong đời sống đã tạo nên mười ác nghiệp; trái lại một người có tà kiến và đầy nghi tâm trước khi chết có thể đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, dù sanh tiền thường tạo mười thiện nghiệp. Sự có mặt của chánh kiến của phàm phu đã có ảnh hưởng lớn như thế trong việc thác sinh, huống nữa là sự có mặt của Tuệ giác.

Thường về mặt giới tướng, sự phạm tội được buộc tội nếu hội đủ ba điều kiện:

- Sửa soạn để phạm.
- Hành động cụ thể về sự vi phạm.
- Cố ý.

Trong ba điều kiện để buộc tội ấy, hai điều kiện là thuộc phần tác ý của tâm. Thành thử vấn đề của giới đặt ra một cách rõ ràng là để giúp cho con người giữ gìn tâm thức được trong sạch, thanh tịnh, lương thiện. Phạm giới có nghĩa là xác định tâm thức bị hoen ố. Như thế, vấn đề giữ giới thực ra là vấn đề giữ cho ý thức thanh tịnh, căn bản là theo dõi ý và chế ngự ý. Với ai mà tu giữ ý thức được thanh tịnh, giác tĩnh thì hẳn nhiên người ấy có giới thể được tròn đầy.

Giới dù cho có thiết lập nên nhiều giới điều, căn bản vẫn là có gốc ý thức. Giữ niệm được thanh tịnh thì giới thanh tịnh. Có thể phát biểu rằng chỉ có một giới căn bản là ý giới: rời xa các ác pháp, bất thiện pháp, rời xa tham ái, sân hận và chấp thủ.

Giới có công năng rõ ràng, qua phần trình bày ở trên, là đem lại an lạc và hạnh phúc lâu dài cho mình và cho người trong hiện tại và tương lai. Giữ giới là giữ gìn nguồn an lạc hạnh phúc ấy; phạm giới là gây tổn hại đến nguồn an lạc, hạnh phúc ấy.

Giới, như thế không phải dành riêng cho hàng xuất gia hay chỉ dành riêng cho hàng Phật tử tại gia, cũng không phải chỉ dành riêng cho những người lớn tuổi mà là chung cho tất cả mọi người trong mọi lứa tuổi, cho những ai muốn sống đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình và người trong hiện tại và trong cả tương lai.

Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm, thì hẳn đúng Giới là những gì mà nhân loại cần nắm giữ trên đường đi đến hạnh phúc ấy. Đã đến lúc con người cần loại bỏ hết thảy ngộ nhận về Giới của giáo lý Phật giáo để tiến lại gần hơn với Giới và nắm giữ Giới thân ái như nắm giữ hạnh phúc của mình.


TT. Thích Chơn Thiện
Share:

Không Sát Sanh, Tôn Trọng Sự Sống

Con người khác với loài động vật ở chổ biết đặt vấn đề về giá trị của đời sống; sống như thế nào thì gọi là thiện là tốt hoặc ngược lại là ác là xấu ? Làm thế nào để con người thể hiện hành vi của mình phù hợp với nhân tính ? Cần có một mục tiêu, lý tưởng để hướng dẫn con người hành động, do đó, triết học, tôn giáo, chủ nghĩa ra đời .

Đạo Phật chú trọng đến vấn đề giải thoát con người ra khỏi những ràng buộc, những đau khổ thông thường cho đến vượt thoát biển khổ trầm luân sinh tử, tử sinh, bằng cách khai thác năng lực tính Phật tiềm ẩn nơi mỗi chúng sinh và bằng khả năng tự lực của chính mình . Để bắt đầu, đạo Phật thiết lập giới luật để ngăn ngừa hành vi bất thiện của dục vọng bản năng, tạo điều kiện cho tính Phật xuất hiện, phát triển và hoàn thiện nhân cách đến chổ giải thoát hoàn toàn .

Tác dụng của giới luật trước hết là tạo nên con người có tính cách ổn định , hướng về điều thiện , tránh xa điều ác , biểu hiện ở chổ kiểm soát chính mình , đối xử với mọi người và hoàn cảnh như thế nào để đem đến sự bình an và hạnh phúc cho đời sống con người . Sau đó, trên cơ sở đạo đức ấy , tâm lý được thanh lọc và đạt được trí tuệ , hội nhập thực tại vô ngã giải thoát tối hậu .

Giới luật của đạo Phật không xây dựng trên nền tảng tín điều và thiết lập giáo điều như các tôn giáo khác thường làm để bắt buộc tín đồ phải tuân thủ , mà xây dựng trên cơ sở thực tiển tâm lý và xã hội , trên cơ sở quy luật của hạnh phúc hay đau khổ . Vì vậy, định nghĩa về giới luật (Sila) rất rõ là : ngăn ngừa những điều bất thiện , đình chỉ các điều ác ( phòng phi chỉ ác ) ; hoặc là đình chỉ các điều ác , thực hành các điều thiện ( chỉ ác tác thiện ) giới luật còn gọi là Vinaya , tức là điều phục hành vi , ngôn ngữ bất thiện trở nên thuần thiện ; hay còn gọi là Patimokha tức là giải thoát từng phần , giữ giới nào thì giải thoát , tự do về giới ấy . Điều này có nghiã là tránh được điều bất thiện nào thì điều bất thiện đó không trói buộc , không làm hại được mình . Nói một cách tổng quát thì giới luật là kim chỉ nam cho hành động , giúp con người giải quyết những vấn đề bất ổn trong đời sống về mặt ứng xử , tâm lý và nhất là đối với lý tưởng giải thoát của người phật tử .

CHƯƠNG I

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH GIỚI LUẬT


Sau khi Đức Phật thành đạo dưới cội Bồ đề, Ngài đến vườn Lộc Uyển ở Isipatana gần Beneres hoá độ năm anh em Kiều Trần Như , năm người bạn đồng tu khổ hạnh với ngài trước kia. Giáo pháp được Đức Phật truyền dạy là con đường trung đạo tránh xa hai cực đoan : hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác. Đồng thời Ngài cũng thuyết giảng hệ thống bốn chân lý : chân lý về khổ ( Dukkha ), chân lý về nguồn gốc của khổ ( Samudaya)Chân lý về khổ diệt ( Nirodha ), chân lý về con đường đưa đến khổ diệt (Magga ). Năm Tôn giả lần lượt quán triệt bốn chân lý ấy và được Đức Phật chấp thuận cho làm đệ tử xuất gia. Đây là năm vị Tỳ kheo đầu tiên của Giáo hội. Từ đây ngôi Tam Bảo được hình thành : Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng , chỉ trong vòng hai tháng sau khi Ngài thành đạo .

I. GIÁO PHÁP LÀ GIỚI :

Để trở thành Tỳ kheo, năm anh em Kiều Trần Như chỉ giác ngộ chân lý, không cần có một thủ tục hay giới điều nào cần phải tuân thủ. Về sau trường hợp này gọi là :" Kiến đế đắc giới". Theo các tài liệu về sử học còn lưu lại thì buổi ban đầu này Đức Phật chỉ nói một câu :" Đến đây, này các Tỳ kheo, giáo pháp đã được khéo giảng, hãy sống đời phạm hạnh để đoạn tận khổ đau" ( Đức Phật Lịch Sử. Tr 164 VNCPH ấn hành )

Thuở đầu thành lập Tăng đoàn, việc thọ giới Tỳ kheo chỉ là sự hợp thức hoá bởi chính Đức Phật. Khi Ngài thấy được người đệ tử ấy đã lãnh hội giáo pháp và phát nguyện xuất gia. Chưa có một giới điều nào, chưa có ý niệm gì về sự ràng buộc của quy chế,bởi lẻ giáo pháp chính là giới. Tính chân lý của giáo pháp cùng với năng lực vĩ đại của Đức Phật ảnh hưởng trực tiếp lên tâm trí của một người đã tạo nên tác dụng của giới là đình chỉ các điều ác, thực hành các việc thiện. Giáo pháp ở đây nên hiểu là bốn chân lý. Trong đó nguyên tắc hành trì để đạt được phạm hạnh thanh tịnh là Bát chánh đạo, con đường đưa đến khổ diệt. Hành trì Bát chánh đạo tự nó là giới, nếu phân biệt thì chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là nội dung của giới. Nói một cách rộng rãi thì lãnh hội giáo pháp là trí tuệ hiện hữu, đã có trí tuệ thì tội lỗi không sinh. Do sự giác ngộ chân lý trực tiếp từ lời dạy và phong cách của Đức Phật, Tăng già buổi ban đầu không cần phải có các giới điều hay quy chế làm gì. Trong luật tạng thời kỳ này được gọi là :" Vô sự Tăng" .

Ngoài năm anh em Kiều Trần Như, vài tháng sau đó, Đức Phật độ cho Yasa, một thanh niên còn trẻ và giàu có ở Benares, được xuất gia và chứng quả A La Hán. Chẳng bao lâu, 50 bằng hữu của Yasa cũng gia nhập giáo đoàn và đều đắc A La Hán quả. Giáo đoàn đã được 60 vị. Đức Phật và 60 Tỳ kheo an cư lần đầu tiên tại vườn nai ở Isipatana.

Pháp và luật mà Đức Phật luôn luôn giảng dạy, nhắc nhở là đoạn trừ ác nghiệp những lầm lỗi ở nơi thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

Như vậy, dù chưa chế giới nhưng nền tảng của giới cũng đã thiết lập bao gồm Đạo đức luận và giải thoát luận .

II. BA PHÁP QUY Y LÀ GIỚI :

Sau mùa an cư đầu tiên, Đức Phật quyết định truyền bá con đường giải thoát một cách rộng rãi ; Ngài tập trung 60 vị Tỳ kheo và dạy :" Này các Tỳ kheo hãy đi khắp nơi vì an lạc và hạnh phúc của số đông, do lòng từ bi đối với cuộc đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của trời và người. Chớ đi hai người cùng chung đường với nhau. Này các Tỳ kheo, hãy thuyết giảng giáo pháp cao thượng ở lúc đầu,cao thượng ở lúc giữa, cao thưọng ở lúc cuối, trong tâm trí và trong ngôn từ. Hãy rao giảng sự viên mãn, đời sống thanh tịnh của trạng thái cao cả. Có những kẻ mà trí óc chỉ bị che mờ bởi đôi chút bụi bặm, nếu không nghe giảng pháp thì họ không thể đạt được giải thoát ; những kẻ ấy sẽ hiểu pháp". ( Mahavagga I.12 )

Thọ lãnh những huấn thị ấy của Đức Thế Tôn, các Tỳ kheo lên đường hoằng hóa, tiếp độ chúng nhân ngày càng đông. Từ đó nảy sinh ra một điều bất tiện là khi có người xin xuất gia, các vị Tôn giả đều phải giới thiệu hoặc đưa ngưòi ấy về Isipatana để xin Đức Phật cho thọ giới. Vì thuở đó Đức Phật chưa cho phép các vị Tỳ kheo tự ý truyền giới xuất gia. Sự bất tiện nữa là Đức Phật không thể ở yên một trú xứ chờ đợi các đệ tử đưa người về ; bản thân của Ngài cũng vân du đây đó để hoá độ chúng sinh. Để giải quyết vấn đề, Ngài triệu tập Tăng đoàn hội ý. Sau khi thảo luận, Đức Phật dạy :" Này các Tỳ kheo, ta cho phép chư vị khi ở trong những xứ sở, thôn làng xa xôi có quyền truyền tiểu giới xuất gia ( pabbajà, sadi ) và đại giới xuất gia ( Upasampadà, Tỳ kheo ).Việc ấy phải thực hiện theo cách này : Trước tiên hãy cho giới tử cạo sạch râu tóc, đắp các y vàng và phủ ra bên trái với thượng y ; hãy cho phép vị ấy quỳ xuống cung kính nghiêng mình trước giới sư với hai tay chắp lại. Sau đó vị ấy phải được dạy bảo lặp lại câu :" Đệ tử xin quy y Phật ; đệ tử xin quy y pháp ; đệ tử xin quy y tăng." Câu này phải được lặp lại ba lần ." Này chư Tỳ kheo, ta cho phép chư vị truyền tiểu giới và đại giới xuất gia của một tân thọ Tỳ kheo bằng cách nhận tam quy này" ( ĐP LS ). Từ đó, phương pháp truyền giới và thọ giới được thành lập. Nội dung của giới được truyền chỉ đơn giản là ba pháp quy y ;mặc dù có phân biệt tiểu giới và đại giới, nhưng không có phân biệt về nội dung giới pháp. Đây là trường hợp mà trong luật tạng gọi là :" Tam ngữ đắc giới"

Sau này, khi giới luật phát triển đầy đủ, ba pháp quy y không còn đóng vai trò quan trọng và lớn lao như vậy nữa. Có người cho rằng, ba pháp quy y không phải là giới ; nhưng trên thực tế, ba pháp quy y vẫn phát sinh tác dụng của giới. Nghĩa là ngăn ngừa điều ác, những điều kiện bất thiện phát sinh. Ngài Thánh Nghiêm ở Trung Hoa viết trong tác phẩm Giới Luật Học Cương Yếu rằng :" Thật ra Tam quy cũng là giới." Bởi vì, nghĩa của giới là cấm ngăn. Sau khi quy y cũng có ba thứ cấm ngăn :" Quy y Phật suốt đời không quy y thiên ma ngoại đạo ; Quy y pháp suốt đời chẳng quy y tà thuyết ngoại đạo ; Quy y Tăng suốt đời chẳng quy y đồ chúng ngoại đạo. Vì thế, bản thân của quy y Tam Bảolà có bao hàm đặc chất của một loại giới." ( Tuệ Đăng dịch ).

Như vậy, sự phát triển giáo đoàn đã thúc đẩy hình thành một quy chế truyền giới ; tuy đơn giản nhưng đó vẫn là một phương thức mang tính cách quy chế. Đối với hàng ngũ cư sĩ tại gia, khi muốn trở thành một tín đồ Phật giáo, phương thức nhập đạo cũng chỉ là phát nguyện Tam quy. Các cư sĩ thường tác bạch :" Bạch Đức Thế Tôn, nay đệ tử xin quy y Thế Tôn, quy y pháp ; quy y Tăng ; ước mong Thế Tôn nhận đệ tử làm cư sĩ tại gia từ nay cho đến trọn đời" ( Trường Bộ Kinh ). Không thấy truyền thọ 5 giới, có lẻ 5 giới được mặc nhiên hành trì ; vì đó là những nguyên tắc đạo đức phổ quát đương thời được Đức Phật hệ thống lại về sau. Phương thức truyền giới và thọ giới bằng cách đọc Tam quy chỉ dành cho các Tỳ kheo sử dụng. Riêng Đức Phật, Ngài rất ít khi sử dụng. Ngài thương dùng câu ;" Thiện lai Tỳ kheo"," Hãy đến đây, Tỳ kheo" ( Ehi, Bhikka) là một sự vị thiện nam tử trở thành một người xuất gia thực thụ. Cách truyền giới này chỉ có Đức Phật sử dụng mà thôi

.III. GIỚI KINH :

Trong kinh có đề cập đến sự tập trung Tăng chúng vào những ngày trăng tròn và không trăng để đọc tụng giới kinh. Như vậy, dù chưa hình thành rõ nét giới bổn, nhưng chắc chắn đã có những bài kinh gọi là giới kinh để nhắc nhở Tăng chúng thúc liễm thân tâm và để thanh lọc thân khẩu ý.

Trong giới bổn Tỳ kheo có 7 bài kệ của 7 Đức Phật kể từ Đức Phật Tỳ Bà Thi cho đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là giới kinh. Hình thức của bài kệ ngắn gọn, dễ thuộc, nội dung khích lệ tu tập để làm trong sạch thân khẩu ý. Giới bản Tỳ kheo nói rõ rằng : " Đây là giới căn bản ứng dụng cho chư Tăng Vô sự" thuở ban đầu. Sau này, giới luật phát triển cũng chỉ làm phong phú thêm mà thôi ; có thể trích dẫn 1 trong 7 bài giới kinh như sau : Giới kinh do Đức Thích Ca Mâu Ni dạy :

" Khéo léo mà giữ

Miệng lưỡi lời tiếng

Tự mình làm sạch

Tâm trí của mình

Và thân thể nữa

Cũng đừng làm ác

Đó là đường sạch

Của cả ba nghiệp

Khả năng đạt được

Đường sạch như vậy

Chính là đường đi

Của Bậc Đại Tiên".

" Bài tụng này là giới kinh của Thích Ca Mâu Ni đấng Như Lai, đấng Vô Trước, đấng Chánh Biến Tri thuyết ra cho chư Tăng không có mọi sự tội lỗi trong 12 năm đầu. Từ đó về sau, chỉ là phân tích phong phú giới kinh này." (Tỳ kheo giới. Trí Quang dịch 1974)

Qua bài tụng giới kinh tiêu biểu trên, chúng ta có thể thấy rằng, thanh lọc thân khẩu ý là mục tiêu của sự hành trì giới và mục tiêu của đời sống phạm hạnh .

Qua năm thứ ba sau ngày Đức Phật thành đạo, giáo đoàn đã lên đến con số 1250 vị gồm 1000 đệ tử của ba anh em Kassapa, 250đệ tử của Sàriputta và Mogallàna. Với số lượng Tăng chúng đông đảo như vậy, để có sự ổn định, ngoài các bài tụng giới kinh, chắc chắn Đức Phật có chế ra một ít giới luật để ngăn ngừa những sự rắc rối xảy ra trong đời sống tập thể và đối với quần chúng xã hội. HW Schuman, trong tác phẩm Đức Phật Lịch Sử của ông có đề cập vấn đề này :" Bậc đạo sư đưa ra một loạt huấn thị để dạy chư vị Tỳ kheo biết giữ phép xã giao nhã nhặn, phải đắp y đúng luật Sa môn, cư xử khiêm tốn trước các thí chủ và thọ thực trong im lặng.

Những trường hợp bất kính đối với các vị thầy giáo huấn lớp tân Tỳ kheo cũng khiến Ngài ban hành các giới luật về vấn đề này. Ngài truyền lệnh các Tỳ kheo phải vâng lời của các giáo thọ, phải chăm sóc y phục của các giáo thọ, phải rửa sạch bình bát và lau chùi sàng tọa của thầy mình". (Trần Phương Lan dịch. Tr 232 ).

IV.NI GIỚI :

Năm 504 BC, sau khi Đức Phật thành đạo 5 năm, trong dịp Ngài về thăm phụ vương đang bệnh nặng và sau đó ông qua đời, đây là lần thứ 2 Ngài về hoàng cung, bà Mahapajapati- di mẫu của Đức Phật cầu xin xuất gia. Mặc dù Đức Phật 3 lần từ chối bà đã tự cạo đầu, khoác áo cà sa cùng với một số cung phi trong hoàng tộc đi từ Kapilavatthu đến thành Vaisali gặp Ngài xin xuất gia. Dù vậy, Đức Phật vẫn từ chối. Tôn giả Ananda, đã không cầm lòng được và lên tiếng cầu xin giúp. Cuối cùng, Đức Phật dạy :" Này Ananda, nếu mẫu hậu Mahapajapati cam kết tuân theo tám trọng giới này thì hãy xem đây là lễ thọ giới của bà." Bà Mahapajapati chấp nhận mọi diều kiện và trở thành vị Tỳ kheo ni đầu tiên .

Nội dung của Bát kỉnh pháp là đề cao vai trò của Tăng chúng, Tỳ kheo ni phải phục tùng và kính trọng Tăng chúng. Bát kỉnh pháp quy định một Tỳ kheo ni dù đã 100 tuổi hạ cũng phải cung kính đảnh lễ vị Tỳ kheo 1 hạ … Lý do Đức Phật thiết lập Bát kỉnh pháp là để phòng ngừa sự quá đáng của ni giới đối với chư Tăng về mọi mặt. Như trong kinh Tăng Chi Phật dạy :" Này Ananda, cũng như một người vì nghĩ đến tương lai mà lo xây đập ngăn hồ nước lớn không cho nước chảy qua. Cũng vậy, này Ananda vì nghĩ đến tương lai ta mới ban hành Bát kỉnh pháp này cho các Tỳ kheo ni để họ trọn đời không vượt qua" .

Như vậy, ngoài những nguyên tắc đơn giản là truyền Tam quy, Ni chúng còn được truyền Bát kỉnh pháp để trở thành Tỳ kheo ni. Về sau, giới luật của Tỳ kheo ni cũng nhiều hơn giới luật của Tỳ kheo ; đơn giản, là vì người nữ về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội… đều phức tạp hơn nam giới .

Qua quá trình ở trên, chúng ta nhận thấy giới luật của Tỳ kheo và Tỳ kheo ni thời kỳ này chủ yếu là coi trọng giới thể chứ chưa đặt nặng giới tướng. Vì vậy, khi một Tỳ kheo hay một Tỳ kheo ni được thọ giới hoặc đắc giới có nghĩa là giới thể vô biểu phát khởi trong thân tâm của người thọ. Đó là nột loại ấn tượng có thể tạo ra năng lực chi phối các hoạt động của thân khẩu ý. Năng lực ấy tuy không thấy được bằng mắt nhưng tác dụng rất rõ. Đó là ngăn ngừa được sự bất thiện của thân, khẩu, ý.Đây chính là cốt lõi của Tỳ kheo và Tỳ kheo ni giới.

Giới Tỳ kheo được gọi là giới Cụ túc, tiếng phạn là Upasampàda, dịch là Cận viên, nghĩa là gần với sự viên mãn ; hay nói cách khác là gần với quả vị cao thượng của A La Hán. Đời sống của một vị A La Hán có 4 sự thanh tịnh :

a. Biệt giải thoát luật nghi
b. Căn luật nghi
c. Mạng luật nghi
d. Chánh niệm tỉnh giác .

Đầy đủ 4 sự thanh tịnh này gọi là Cụ túc giới. Tổng kết các trường hợp đắc giới Cụ túc, Luật tạng nêu ra 10 trường hợp :

Tự nhiên đắc giới : Đây là trường hợp của Đức Phật hay Độc Giác Phật, do tự mình chứng ngộ, không có ai truyền .
Kiến đế đắc giới : Như trường hợp của năm anh em Kiều Trần Như, thấy được 4 chân lý bước vào thánh đạo mà đắc giới .
Thiện lai Tỳ kheo : được Đức Phật gọi là Thiện lai Tỳ kheo mà đắc giới .
Do xác nhận Phật là thầy : Đây là trường hợp của Tôn giả Ca Diếp khi gặp Đức Phật liền tuyên bố :" Đây là bậc đạo sư của tôi" mà đắc giới Cụ túc .
Do kheó trả lời : Đây là trường hợp của Tô Đà Di mới 7 tuổi đã trả lời một cách khéo léo câu hỏi của Phật rằng :" Nhà con ở đâu ?". Đáp :" Ba cõi không đâu là nhà" Đức Phật cho thọ giới Cụ túc .
Do thọ Bát kỉnh pháp : Đây là trường hợp bà Mahapajapati, di mẫu của Đức Thế Tôn, chấp nhân 8 phép tôn trọng đối với Tăng mà đắc Cụ túc giới .
Do gởi đại diện : Đây là trường hợp của ni cô Pháp Thọ ; do có sắc đẹp nổi tiếng nên khi hay tin nàng xuất gia thọ giới, nhiều thanh niên tổ chức đón đường bắt cóc. Phật cho phép nàng gởi người đại diện đến giữa Tăng mà thọ, sau đó về truyền lại .
Do người thứ 5 là người trì luật : Trường hợp ở biên cương không đủ túc số 10 Tăng, được cho phép chỉ đủ 5 người, nhưng 1 trong 5 người phải biết pháp yết ma truyền giới .
Thọ giới đủ 10 Tỳ kheo truyền : Đây là trường hợp thông thường bắt buộc đối với vùng đô thị và nơi đủ túc số Tăng .
Tam ngữ đắc giới : Đây là trường hợp thọ Cụ túc giới bằng cách đọc 3 lần :" Quy y Phật ; quy y pháp ; quy y Tăng"
Cách này là cách truyền giới thuở ban đầu thành lập Tăng đoàn .

Tóm lại, giới luật trong thời kỳ ban đầu của giáo đoàn đặt trọng tâm vào giáo pháp và đời sống phạm hạnh . Những giới luật của người xuất gia chưa cần phải thiết lập. Nghi thức truyền thọ Cụ túc giới cũng rất đơn giản, ngắn gọn . Do tình hình sinh hoạt thực tế của giáo đoàn, Đức Phật dần dần thiết lập giới. Theo Luật tạng thì cho đến năm thứ 12 sau ngày Phật thành đạo giới luật mới chính thức được thành lập. Năm thứ 5 sau ngày Phật thành đạo, Tôn giả Ưupali xuất gia, vì là ngưòi có năng khiếu về phân tích giới luật, nên Đức Phật thường giao cho Tôn giả nhiệm vụ nghiên cứu giới luật để hình thành luật tạng .sự hình thành giới bổn kéo dài cho đến khi Đức Phật nhập Niết bàn mới chấm dứt .

V. GIỚI BỒN :

Giới của người cư sĩ tại gia :
Theo nguyên tắc, người cư sĩ tại gia phải có đủ 2 điều kiện để trở thành một phật tử chân chính. Đó là thọ nhận 3 pháp quy y và hành trì 5 giới cấm, 5 giới cũng được truyền và thọ đúng nguyên tắc. Tuy nhiên, thời kỳ đầu của giáo đoàn, người cư sĩ không cần phải thọ giới hay được truyền 5 giới mà chỉ cần phát nguyện thọ Tam quy theo nghi thức rất đơn giản là lặp lại 3 lần Tam quy .
Người cư sĩ tại gia đầu tiên của Đức Phật là hai thương gia Tapassu và Bhallika, hai thương gia này trên đường về quê gặp được Đức Phật vừa mới đắc đạo chưa đi hoằng hoá. Trước phong cách đặc biệt của một vị giác ngộ, hai thương gia dừng lại thăm hỏi đảnh lễ và cúng dường một ít mật và bột. Sau đó họ quỳ xuống và bạch rằng :" Bạch Đức Thế Tôn, chúng con xin quy y Phật , quy y pháp, xin Ngài thâu nhận chúng con làm thiện tín kể từ nay cho đến ngày cuối cùng đời chúng con". Đó là 2 vị thiện tín đầu tiên quy y nhị bảo . ( Đức Phật và Phật pháp. Tr 78 Narada ).

Trong thời gian đầu tiên này, Đức Phật cũng nhận nữ thiện tín đầu tiên quy y nhị bảo. Đó là nàng Sunjata, người dâng bát sữa đầu tiên khi Đức Phật từ bỏ con đường tu khổ hạnh .

Người cư sĩ đầu tiên quy y Tam bảo là thân phụ của Yasa. Yasa là một thanh niên giàu có, con một, của một thương gia. Do chán đời sống gia đình xa hoa vô nghĩa, một hôm anh ta đến vườn nai ở Isipatana gặp được Đức Phật, nghe thuyết pháp ; cuối cùng Yasa giác ngộ chân lý và muốn xuất gia theo Đức Phật. Thân phụ của Yasa đi tìm con ; ông ta đến vườn Nai hỏi thăm Đức Phật. Đức Phật bảo ông ta ngồi xuống và thuyết pháp cho ông nghe. Nghe xong, ông hoan hỷ xin quy y Tam bảo. Từ đó những cư sĩ muốn trở thành đệ tử của Đức Phật thường đọc 3 lần quy y Tam bảo .

Năm giới cấm của người phật tử tại gia do Đức Phật chế và trở thành giới điều thực sự có lẻ khoảng năm thứ 12 sau ngày thành đạo trở lên ; nghĩa là hình thành cùng khoảng thời gian hình thành giới bổn của người xuất gia .

Thật ra, như chúng ta thấy, dù nói 5 giới là của người phật tử tại gia nhưng lại là giới nền tảng, căn bản cho cả người xuất gia. Năm giới Đức Phật dạy được ghi chép lại trong kinh Trung A Hàm 128 là bài kinh Ưu-bà- tắc ( bản kinh do Sanghadeva dịch ra chữ hán ), tương đương với kinh gia chủ trong Anguttava Nikàya. Kinh này Đức Phật dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc cùng với 500 cư sĩ bằng hữu của Cấo Cô Độc tại tịnh xá Kỳ Hoàn thuộc nước xá vệ ( Savatthi ).

Nội dung 5 giới được trình bày rất rõ ràng và đầy đủ cả hai mặt Chỉ trì và Tác trì, nghĩa là rất tích cực. Ví dụ, giới thứ nhất xa lià sát sinh, Phật dạy :" Bạch y thánh đệ tử xa lià sát sinh , vứt bỏ khí giới, có tâm hổ thẹn, có tâm từ bi thường thực hành hạnh lợi ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng ( phóng sinh, bảo vệ sinh vật ). Đấy là pháp thứ nhất mà bạch y thánh đệ tử giữ gìn và thực hành một cách hoàn hảo".

Căn cứ vào bài kinh trên trên chúng ta có thể rút ra vài nhận định như sau . Đối tượng mà Đức Phật thuyết giảng 5 giới là cư sĩ hết sức ủng hộ và sùng kính Đức Phật cũng như giáo đoàn. Đây là lần đầu tiên Đức Phật thuyết

về 5 giới như là những tiêu chuẩn đạo đức cho người cư sĩ tại gia .

Thời gian thuyết kinh này khoảng từ năm thứ 10 đến thứ 12 sau ngày thành đạo. Cấp Cô Độc có duyên gặp Phật rất sớm vào năm thứ 3 sau ngày thành đạo và ông đã dâng cúng tịnh xá Kỳ Hoàn ở Xá Vệ ( Savatthi ) năm sau đó, tức khoảng 526-527 BC. Nhưng Đức Phật không ở Kỳ Hoàn cho đến 515 ( hơn 10 năm sau ) Ngài mới an cư lần đầu tiên tại đây. Từ đó cho đến cuối đời, phần lớn các mùa an cư Đức Phật đều ngụ tại tịnh xá Kỳ Hoàn, theo sử ghi lại khoảng 19 lần Ngài an cư tại nơi này. Ngài Narada viết trong tác phẩm Đức Phật và Phật pháp rằng :" Đức Phật an cư 19 lần ở jetavana. Đa số các bài pháp liên quan đến hàng cư sĩ là do Đức Phật giảng cho Cấp Cô Độc".

Trong phần duyên khởi của kinh nói Cấp Cô Độc đến thăm ngài Xá Lợi Phất chuyển hoá các cư sĩ chưa hiểu đạo này. Điều cần nói thêm ở đây là mối giao tình giữa ngài Xá Lợi Phất và Cấp Cô Độc rất đặc biệt.Ngài Xá Lợi Phất dẫn dắt 500 cư sĩ đến trình diện Đức Thế Tôn với thâm ý là Đức Thế Tôn trực tiếp giảng dạy họ. Đức Phật nhận thấy rằng, đây là cơ hội để chính thức dạy cho hàng ngũ cư sĩ thực hành 5 giới như là những nguyên tắc cơ bản của một cư sĩ theo Phật. Việc Cấp Cô Độc dẫn dắt số lượng cư sĩ đã khá mạnh, nhu cầu tu học đã cao. Điều đó cũng nói lên sự bắt rễ vững chắc của giáo đoàn ở Savatthi .

Thời gian đầu của Đức Phật ở tại Savatthi, ngoài sự hộ trì của cư sĩ Cấp Cô Độc, Đức Phật và giáo đoàn còn được sự hộ trì của một nữ cư sĩ nổi tiếng là Visàkhà. Cô là con gái triệu phú Dhanàrjaya, lúc lên 7 tuổi, cô đã có cơ duyên gặp Phật nhân dịp Ngài du hành đến Bhaddiya, quê hương của cô. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, cô trở thành một phật tử thuần thành. ( Sách ghi là cô chứng quả Tu Đà Hoàn ) khoảng năm 17 tuổi cô lấy chồng, cũng con một triệu phú, tên là Punnavadhana. Về nhà chồng ở Savatthi, được gần gủi Đức Phật và chư Tăng, cô rất vui mừng và hết lòng ủng hộ Phật pháp. Cô đã chuyển hóa cha chồng từ một đệ tử đắc lực của giáo phái Nigantha trở thành đệ tử của Đức Phật. Bà đã cúng dường Đức Phật và chúng Tăng đầy đủ đến suốt đời theo tâm nguyện của mình. Đặc biệt, Visàkhà dâng cúng Đức Phật một tịnh xá tên là Pubbàràma(Đông Viên Trùng Các ) cách tịnh xá Jetavana không xa.

Đức Phật đã an cư tại đây 6 mùa mưa. Bà là người nữ cư sĩđược Đức Phật dạy rất nhiều bài kinh liên quan đến đời sống của người cư sĩ, đặc biệt là pháp Bát Quan Trai Giới .

Bát Quan Trai Giới mà các phật tử ngày nay thọ trì tu tập khởi nguyên là Đức Phật dạy cho Visàkha. Nội dung Bát Quan Trai được ghi chép lại trong kinh A Hàm IV, kinh Trì Trai 202. Từ bài kinh này ta có thể rút ra một vài nhận định sau :

Bát Quan Trai Giới đã được Đức Phật thuyết lần đầu cho Visakha tại Đông Viên Trùng Các, vào dịp an cư mùa mưa. Có lẽ là sau thời gian thuyết 5 giới cho Cấp Cô Độc .Visàkhà thường đến tịnh xá để hầu thăm Đức Phật vào những ngày trăng tròn. Nàng phát nguyện trì trai trọn ngày ; nhân đó Đức Phật dạy cho Visàkhà về phương pháp trì trai chân chính gọi là Tám Chi Thánh Trai .

Nội dung tám giới, 5 giới đầu tương tự 5 giới của người cư sĩ mà Đức Phật dạy cho Cấp Cô Độc, trừ giới thứ 3 thêm là không dâm dục. Những giới còn lại là không nằm giường cao rộng lớn, xa lìa trang sức, ca vũ nhạc và không ăn phi thời. Ba giới sau tương đương với giới của sa di, nghĩa là giới của người xuất gia. Chứng tỏ giới sa di cũng được thiết lập hoàn chỉnh. Mục đích của Bát Quan Trai là tạo cơ hội cho hàng ngũ cư sĩ có diều kiện tu tập giải thoát, nâng cao đời sống tâm linh và trí tuệ, ít nhất là thực hành hạnh xuất gia. Trong kinh Trì Trai Đức Phật coi Tám Thánh Trai này tương đương với phẩm hạnh của một vị A La Hán ; có thể lấy một giới để ví dụ, như giới thứ ba :" Này nữ cư sĩ, Đa văn thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy :" A La Hán cân nhân rọn đời xa lià phi pham hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, tu hành phạm hạnh, chí tâm thanh tịnh, sống không xú uế, ly dục, đoạn dâm. Đối với phi phạm hạnh, nay tôi tịnh trừ tâm ấy". Ta coi chi này như của A La Hán ngang nhau không khác, do đó gọi là trai (Kinh Trì Trai tương đương Tăng Chi III. Phẩm Ngày Trai Giới ) .

Như vậy tuy gọi là 5 giới hay 8 giới của người cư sĩ tại gia nhưng vẫn là giới luật nền tảng của người xuất gia. Bởi lẻ mục tiêu giải thoát là một và con đường đi đến giải thoát cũng là một .

Qua trình bày trên, chúng ta có thể tạm kết luận quá trình hình thành giới của người phật tử tại gia đến khi hoàn chỉnh ở vào thời điểm giáo đoàn hưng thịnh hàng ngũ cư sĩ đông đảo đã có nhu cầu tu học cao ; tức là thời gian từ năm thứ 12 cho đến thứ 15 sau ngày thành đạo. Hai vị cư sĩ nổi bật là Cấp Cô Độc và Visàkhà được xem như là khởi nguyên giới luật của người phật tử tại gia. Nội dung của các giới điều ấy rất cụ thể, mang tính tích cực và phù

hợp với đời sống con người xã hội và lý tưởng giải thoát .

Giới của người xuất gia :
Như chúng ta đã biết, buổi ban sơ của giáo đoàn chưa thiết lập giới. Chúng Tỳ kheo dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Phật rất thanh tịnh. Theo luật tạng, thời gian này kéo dài 12 năm. Tuy nhiên, khoảng năm thứ 6 trở đi những huấn thị của Đức Phật về những điều nên làm thuộc về phép xả giao, sự khiêm tốn, đối xử với các thầy giáo thọ phải săn sóc và lễ độ … đã được hình thành .

Đối với người xuất gia, giới nhỏ nhất là sa di giới gồm có 10 giới. Người được coi là vị sa di đầu tiên của giáo hội là La Hầu La, Ngài theo Phật từ lúc Đức Phật về thăm hoàng cung lần đầu tiên kể từ khi bỏ thành ra đi, khoảng năm 526 BC. Bấy giờ, La Hầu La đã được 9 tuổi. Đức Phật giao La Hầu La cho Tôn giả Xá Lợi Phất dạy dỗ. Tôn giả Xá Lợi Phất chỉ hướng dẫn La Hầu La những đức hạnh căn bản của người xuất gia và phương pháp luyện tâm đơn giản, tuân thủ lý tưởng tu tập bản thân như một vị tỳ kheo ; chưa có gì khác biệt chỉ ở chổ tuổi tác, chưa đủ 20 tuổi thì chưa thành Tỳ kheo được .

Mười giới sa di chưa hình thành vào thời kỳ này, lúc khoảng 15 tuổi, La Hầu La vi phạm lỗi nói dối, Đức Phật đích thân dạy La Hầu La phương pháp kiểm soát, kiềm chế thân khẩu ý ( Xem kinh Giáo Giới La Hầu La, Trung Bộ Kinh II" ; không thấy Đức Phật đề cập đến lỗi nói dối như là đã vi phạm giới thứ tư của người sa di. Ngay cả giới không được uống rượu cho đến 520 BC mới được quy định, tức năm thứ 8 sau ngày thành đạo .

Khi ấy, Đức Phật đến xứ Kosambi, hành vi củc các Tỳ kheo ở đây thường bị chỉ trích . Nổi bật là tỳ kheo Sagata, sau khi uống rượu say nằm trước cổng thành Kosambi, các Tỳ kheo khác phải khiêng về, Nhân đó, Đức Phật ban hành luật cấm Tăng chúng uống rượu và ra điều luật nếu sa di uống rượu sẽ bị bát bỏ quyền thọ cụ túc giới ( sđd T.28) .

A?#7921;c hình thành giới luật ngày càng mạnh, vì Tăng chúng ngày mỗi đông, những thành phần phức tạp xen lẫn vào Tăng đoàn nên phải bổ sung những điều giới phù hợp bảo đảm sự thanh tịnh của giáo đoàn. Những diều giới của người xuất gia được hình thành sớm hơn của người tại gia, ban đầu gồm 10 giới ( Sau gọi là giới sa di ) :

Không sát sinh hại mạng .
Không lấy của không cho .
Không dâm dục .
Không nói dối .
Không uống rượu .
Không thọ thực sau giờ ngọ .
Không tham dự các buổi ca vũ nhạc kịch .
Không dùng trành hoa hương liệu, son phấn vàng ngọc trang sức .
Không dùng sàng toạ cao sang rộng lớn .
Không nhận tiền , vàng, bạc …
Mười giới trên là giới của người xuất gia, sa di hay tỳ kheo cũng phải giữ như vậy ; mục đích là giữ sự thanh tịnh của Tăng đoàn, tránh xa các hành vi phù phiếm thế tục để dễ dàng tu tập chánh niệm. Giới bổn quy định rõ 10 giới trên là của sa di, có lẽ từ năm thứ 12 khi mà giới luật Tỳ kheo được thành lập .

Quá trình hình thành giới Tỳ kheo trải qua thời gian khá dài. Đức Phật không chủ trương thiết lập hệ thống giới luật để kiềm chế chúng Tăng, do tình hình thực tế và thuận theo nhu cầu của Tăng mà thiết lập giới. Khi một Tỳ kheo phạm vào một bất thiện pháp nào, Đức Phật họp tăng và chế giới ấy. Sự tình chế giới có lẽ vào năm thứ 5 kéo dài đến cuối đời Ngài. Luật tạng thực sự được thành lập phải là thời kỳ kết tập thứ nhất sau khi Phật diệt độ 3 tháng. Luật tăng Kỳ ghi lại sự kiện Tôn giả Xá Lợi Phất thấy sự cần thiết phải có khung giới luật hoàn chỉnh, nên yêu cầu Đức Phật chế giới đầy đủ. Đức Phật từ chối, ngài dạy :" này Xá Lợi Phất, trong chúng của ta chưa từng có pháp hữu lậu. Trong chúng này của ta, người nhỏ nhất cũng đắc quả Tu Đà Hoàn. Các Đức Phật Như Lai không vì chưa có pháp hữu lậu mà kết giới cho các đệ tử" . Vậy cho thấy, giới luật của Đức Phật khôngmang tính cưỡng chế .

Trường hợp chế giới Tỳ kheo, theo luật tăng kỳ thì giới đầu tiên là giới bất dâm, được thiết lập vào năm thứ 5 sau ngày thành đến năm thứ 12 thì giới tỳ kheo đã lên đến 120 điều. Luật chép :" Đức Thế Tôn ở thành Tỳ Xá Ly, sau khi thành đạo được 5 năm, nữa tháng thứ 5 của mùa đông, ngày 12 sau khi thọ trai xong bóng mặt trời ngã về hướng tây một người rưỡi, Đức Phật chế giới này cho con trai của một trương giả Da xá ca lan Đà" . Giới thứ hai là giới trộm cắp, Phật chế ở thành vương xá vào năm thứ sáu, chế cho người thợ gốm tên là Đạt Ni Ca. Điều thứ ba là giới sát sinh, Đức Thế Tôn ở thành Tỳ Xá Ly vào năm thứ sáu, nhân các Tỳ kheo tu bất tịnh quán, nhàm chán xác thân nên nhờ Lộc Trượng giết, Lộc Trượng ( Migalandika ) là một tỳ kheo, trước kia là ngoại đạo trà trộn vào chúng Tỳ kheo, có biện tài chặt đứt đầu một cách nhanh chóng những người muốn tự sát, bấy giờ ngài liền chế giới này. Giới thứ tư là Đại Vọng Ngữ, Đức Thế Tôn ở tại Xá Vệ, năm thứ sáu, nhiều Tỳ kheo đi vàolàng xưng là A La Hán. Như vậy, các trọng giới của Tỳ kheo đã được chế trong vòng 2 năm. Đó là theo quan điểm của luật Tăng Kỳ. Vấn đề lịch sử về quá trình hình thành giới luật rất phức tạp, khó mà chính xác được .

Luật tạng gồm các bộ luật ghi chép các giới điều ngăn cấm và phương cách xử lý khi có ai vi phạm giới tướng của Tỳ kheo giới có 250 điều, Tỳ kheo ni có 348 điều. Sau khi Đức Phật diệt độ, lần kết tập thứ nhất Tôn giả Ưu Ba Ly đã đọc tụng 80 lần mới hoàn thành, nên gọi là :" Bát Thập Tụng Luật". Sau này thời kỳ phân phái luật tạng chia ra nhiều bộ nữa. Luật tạng được hình thành không theo hệ thống mà dựa theo các sự kiện thực tế. Ngài Ưu Ba Ly sắp xếp theo mức độ nặng nhẹ tuần tự 8 phần như sau

Baladi ( Paràjika ) có 4 tội : Hành dâm, đạo tặc, sát nhân và đại vọng ngữ. Gọi là Baladi nghiã là thất bại, sẽ bị tẩn xuất ra khỏi giáo hội ( Ni có 8 tội ) .
Tăng già bà thi sa ( Sanghàdisesa ) : nghiã là yêu cầu hội họp tănh chúng . Giới này Tăng có 13, Ni có 17 . Vị nào phạm các giới này, người có tội phải thú nhận trước cuộc họp tăng chúng .
Bất định ( Aniyatà ) : Những sự vi phạm giới này là trường hợp cần phải diều tra để quyết định xem chúng thuộc một hay hai. Cách xử phạt sẽ khác nhau tuỳ theo trường hợp. Có 2 giới bất địng cho Tỳ kheo .
Ni tát kỳ ba dật đề ( Nissaggaya- Pàcittiya ) : Nghĩa là :" Xả đoạ" người phạm phải đem tài vật ấy xả cho tăng rồi đến trước Tăng sám hối. Có 30 giới cho tăng và Ni .
Ba dật đề ( pàcittiya ) nghĩa là cần phải chuộc tội . Đây là giới luật nếu vi phạm là không thanh tịnh cần phải chuộc tội bằng cách thú nhận trước chúng Tăng hay trước vị Tỳ kheo. Có 90 giới cho Tỳ kheo và 166 giới cho tỳ kheo ni .
Ba la đề xá ni ( Pàtidesaniya ) nghĩa là cần phải thú nhận sám hối trước một vị tăng . Có 4 giới cho Tăng và 8 giới cho Ni .
Pháp chúng học ( Sekhiya ) là những nguyên tắc xử thế , những phép cư xử lịch sử của Tăng ni về y phục , thái độ lúc đi khất thực , vệ sinh cá nhân . Không có hình phạt chính thức nào dành cho vi phạm .Có 100 pháp cho Tăng và Ni .
Pháp diệt tránh ( Adhikarama ) nghĩa là ổn định thanh chấp , là các giới lu\iên hệ đến phương cách ổn định các mối tranh chấp và loại trừ các sự sai biệt về ý kiến . Có 7 phương pháp ( tham khảo Đức Phật lịch sử – VNCPPHVN ấn hành).
Luật bát Thập Tụng được truyền trì nghiêm cẩn qua 5 Tôn giả : Ca Diếp (Mahakassapa ), Anan ( Ananda ), Mạc Diền Địa ( Mad- hyàntika ), Thương Na Hoà Tu ( Sànavàsa ), Ưu Ba Cúc Đa ( Upagupta ), Tạng luật vãn không có gì thay đổi . Nhưng Ưu Ba Cúc Đa có 5 đệ tử , mỗi người đều có dị kiến về luật mà chia thành 5 bộ . Về sau kiến giải về luật tạng còn phong phú hơn . Nhưng nhìn chung , nội dung của giới điều mà Đức Phật đã dạy từ thời nguyên thuỷ vẫn nguyên vẹn , những dị biệt chỉ là tiểu tiết .

CHƯƠNG II

GIỚI LUẬT- CƠ SỞ CỦA ĐẠO ĐỨC



I. KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC :

" Đạo đức là một trong những hình thài ý thức xã hội , một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người tronh mọi lãnh vực của đời sống xã hội" ( Từ điển triết học ) . Vậy, đạo đức là vấn đề liên hệ đến giá trị tốt xấu ,thiện ác của đời sống con người . Dựa vào các quan niệm , các nguyên tắc đạo đức , con người có thể điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với đạo lý xã hội . Điều đó được biểu hiện qua những hình thức khác nhau như lương tâm , trách nhiệm , bổn phận …

Đạo đức được hình thành tự phát bởi nhu cầu và lợi ích xã hội được mọi người chấp nhận . Đạo đức khác với pháp luật ở chổ người có thực hiện đạo đức được mọi người xung quanh kiểm định là một con người có thực hiện đạo đức không gắn liền với một quyền hạn thực sự nào .

Đạo đức có đặt tính thực tiển , gắn liền với sinh hoạt của con người , đặt ra những nguyên tắc ứng xử , những quan niệm về các mối quan hệ xã hội như đối với bản thân , gia đình , dòng họ, xã hội và thiên nhiên . Vì vậy , tính thiết yếu của đạo đức khá mạnh mẽ ; nó tác động thuận hay nghịch vào quá trình xây dựng hạnh phúc và phát triển của xã hội . Giải quyết vấn đề đạo đức , con người thường dựa vào phong tục , tập quán , tôn giáo triết học … để chọn cho mình một lối sống , một cách ứng xử tốt đẹp nhất .

II. Ý THỨC ĐẠO ĐỨC :

Ý thức đạo đức chính là tiến nói lương tri của con người, là những hoạt động tâm lý liên hệ dến giá trị tốt , xấu , nên hay không nên làm của ngôn ngữ hành vi và cả tư duy . Biểu hiện của ý thức đạo đức gồm có 3 lãnh vực .

Lãnh vực nhận thức :
Khả năng tri thức nhận biết những giá trị cao thượng của đời sống như nhận thức về chân lý, biết cái đúng cái sai … nó giúp con người thẩm định giá trị và chọn lựa một hành ộng hợp đạo lý .

2. Lãnh vực tình cảm :

Ý thức đạo đức được biểu lộ qua tình cảm của con người . Như khi ta làm một điều thiện , trong lònh vui vẻ , thanh thản ; khi làm một điều xấu ác , cảm thấy lòng xấu hổ , nặng nề , tâm lý tàm quý , ân hận , sợ hãi tội lỗi … hoặc tỏ ra không hài lòng , không kính trọng một người vì hành vi của họ và ngược lại . Đó là biểu hiện tình cảm của đạo đức .

3. Lãnh vực hành vi :

Một biểu hiện khác của ý thức đạo đức là hành vi . Hành động thể hiện ý chí đoạn trừ điều ác thực hành các điều thiện . Khi ý thức đạo đức mạnh mẽ thì hành vi được hướng dẫn để đi đúng hướng .

Tóm lại , ý thức đạo đức là sự nhận biết một tâm niệm , một quyết định , một hành vi là tốt hay xấu để chọn lựa thái độ phù hợp với giá trị đạo đức .

III. CÁC QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC QUA CÁC TÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌC ĐÔNG TÂY :

1. Nho giáo : Nho giáo do Khổng Tử sáng lập . Đạo đức luân lý Nho giáo là thuyết Trung dung , hoạt động của con người tuỳ thuận theo Thiên mệnh hay Thiên lý , có thể hiểu là những quy luật khách quan của vũ trụ nhân sinh . Từ chổ hiểu được Thiên mệnh , người nquân tử xây dựng lòng nhân , thương người và hoà hợp với trời đất . Từ nhân , các đức tính nghiã, lễ, trí, tín … được thiết lập . Chữ nhân của Khổng Tử rất bao quát , có thể hiểu là hiếu để hay lòng nhân ái . Trong luận ngữ , Khổng Tử nói :" Người có đức nhân là bản thân mình muốn đứng vững trong cuộc sống , bản thân mình muốn thành đạt thì cũng nên giúp người khác thành đạt . Mọi việc đều có thể từ mình mà nghĩ đến nghĩ người khác có thể nói đó là biện pháp thực hiện đạo nhân".

Muốn đạt được nhân từ thì phải tu nhân , muốn tu thân thì phải chánh tâm . Muốn chánh tâm thì phải nhờ vào Lễ và Nhạc . Nhờ lễ mà định chính được lòng người giữ đạo Trung Dung . Lễ ký viết :" Lễ là định thân sơ , quyết sự hiềm nghi , phân biệt cái giống nhau khác nhau , làm rõ cái phải trái". Nhạc có thể cảm hoá được lòng người , lòng người xúc động mà thành nhạc , lòng vui thì nhạc vui , lòng buồn thì nhạc buồn . Ngược lại, nhạc vui thì lòng vui , nhạc buồn thì lòng buồn . Nên tác dụng của nhạc là cảm hoá được lòng người . Khổng Tử nói :" Xét cho cùng thì cái lẽ về nhạc là làm lòmg người trở nên từ ái , thành tín , giản dị , chánh trực , tự nhiên … ( Nhạc ký ) Lễ và Nhạc có mục đích chung là cùng sửa đổi tâm tính con người cho được trung chính , bồi dưỡng tình cảm con người cho được nhân hậu . Nhạc tác động bên trong , Lễ tác động bên ngoài ; nhờ vậy mà có sự hoà thuận".

2. Lão giáo : Lão giáo do Lão Tử sáng lập . Tư tưởng của Lão Tử nằm trong tác phẩm Đạo Đức Kinh . Vạn vật sinh ra và biến đổi nhờ có .

"Đạo" – Con người sống thuận theo tính tự nhiên là hợp với đạo , nghiã là sống vô dục mới nhận được chổ huyền diệu của đạo . Đạo đức kinh viết :" Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu , thường hữu dục dĩ quan kỳ hiếu" ( nghiã là thường sống không tư dục mới nhân được chổ huyền diệu của đạo , thường sống với tư dục nên chỉ thấy chổ chia lìa của đạo ). Sống không tư dục cũng có nghiã là sống tri túc , tri chỉ , như nói :

"Thậm ái tức thậm phí

Đa tàng tất hậu vong

Tri túc bất nhục

Tri chỉ bất đãi

Khả dĩ trường cửu

( Thương nhiềi thì tổn nhiều

Chứa nhiều tất mất nhiều )

Biết đỉ tức không nhục

Biết dừng tức không nguy

Như vậy mới tồn tại lâu dài"

Trên cơ sở ấy , cách xử sự của ngưòi biết đạo là dùng :" Vô vi" mà xử sự , dùng vô ngôn mà dạy dỗ ( Xử vô vi chi sự hành vô ngôn chi giáo – Đạo đức kinh ) biểu hiện hành động cụ thể trong cuộc sống là :" Hậu kỳ thân nhi thân tiên , ngoại kỳ thân nhi thân tồn"

( Để thân ra sau mà thân ở trước để thân ra ngoài mà thân đặng còn ).

Tóm lại, đạo lý của Lão Tử nằm ở chổ vô dục vô tranh , như Đạo Đức kinh viết :" Phù vi vô tranh cố vô vưu", ôi vì không tranh nên không sao lầm lỗi !

3.Cơ Đốc Giáo : Cơ Đốc Giáo được khai sáng bởi Jesus . Đạo đức cơ đốc giáo , căn bản là lòng bác ái ,đầy tính nhân đạo . Jesus đặc biệt quan tâm đến tầng lớp nghèo khổ , ghét kẻ tâm địa giả dối và cậy quyền thế của giới thượng lưu . Nguyên tắc :" mến chúa yêu người" là nền tảng của đạo đức cơ đốc . Người có lòng yêu chúa mà không yêu yêu người là kẻ gian dối . Thánh Jean nói một câu rất hay là :" Cái thấy được mà còn chưa yêu thì làm sao yêu được cái mình không thấy". Theo Jesus thì thượng đế là cha của nhân loại ; vì vậy cha yêu thương con là thiên tính , nên con phải tin tưởng vào cha của mình . Jesus rao giảng những nguyên tắc đạo đức như đừng ghét , đừng giận , đừng dâm loạn , đừng làm chứng dối , đừng tham của cải người khác , phải nhu hoà yêu thương , khiêm tốn , thành thật , và bao dung tha thứ … Những quy phạm đạo đức của Cơ Đốc Giáo mang tính phổ quát . Tuy nhiên, sự giới hạn của đạo đức của con người khó vượt qua là tôị tổ tông . Con người muốn đạt được đạo đức cao thượng phải có niềm tin tuyệt đối vào Thượng đế và được sự mặc khải của thượng đế , chỉ Thượng đế mới có đạo đức utyệt đối .Phẩm hạnh đạo đức cao nhất của con người là niền tin và niềm hy vọng vô điều kiện và sự ban ơn của chúa trời .

4. Phật giáo : Đạo đức Phật giáo không chỉ là những nguyên tắc đạo đức đáp ứng nhu cầu xây dựng hạnh phúc ổn định cho cá nhân và thượng siêu việt và giải thoát ;hay nói cách khác là đưa con người ta ra khỏi con ngươi để vươn tới lý tưởng giải thoát . Nguyên tắc đạo đức Phật giáo được gói gọn trong Bát Chánh Đạo ,là Đạo đế trong Tứ Diệu Đế . Bát Chánh Đạo gồm có : Chánh kiến ( hiểu biết chính xác ), Chánh tư duy ( suy nghĩ đúng đắn ), Chánh ngữ ( ngôn ngữ đúng đắn ), Chánh nghiệp ( hành vi đúng đắn ), Chánh mạng ( phương tiện mưu sinh chân chính ), Chánh tinh tấn ( nổ lực đúng đắn ), Chánh định ( tập trung tâm đúng đắn ). Tám chi thánh đạo này có tác dụng thanh lọc ngôn ngữ , hành vi và tâm lý của con người . Theo Tứ Diệu Đế , con người đau khổ vì con tham lam sân hận và si mê , từ đó tạo ra ngôn ngữ và hành vi bất thiện , nghiã là tạo ác nghiệp để rồi gặt hái hậu quả khổ đau . Mục tiêu của đạo Phật là chấm dứt khổ đau , đem đến an lạc và giải thoát . Khổ đau theo đạo Phật có 2 lĩnh vực :

Một là khổ đau thông thường như già , bệnh , chết , thất bại , khốn cùng … nghiã là những đau khổ thuộc về tâm lý , sinh lý , hoàn cảnh vật lý .

Hai là nổi đau khổ do luân hồi sinh tử trong ba cõi .

Giải quyết đau khổ thông tục , Đức Phật dạy :" Đừng làm các điều ác , hãy làm các việc lành". ( Chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành ). Muốn thực hiện điều này cần phải giáo dục về mặt nhận thức , tư duy , nhận rõ điều ác , điều thiện ( qua Chánh kiến , Chánh tư duy ) cần phải giữ gìn ngôn ngữ như không nói dối , không nói đâm thọc , không nói độc ác , không nói lời phù phiếm vô ích ; Cần phải giữ gìn hành vi như không được giết hại , không được trộm cắp , không được tà dâm ; giữ gìn phương tiện mưu sinh chân chính như không lường gạt trong nghề nghiệp , không hàng nghề độc ác như buôn bán vũ khí , chất độc rượu , buôn người , đồ tể … Những giới điều này được đúc kết thành 5 giới của người phật tử : Không được sát sinh , không được trộm cắp , không được tà dâm , không được nói dối , không được uống rượu , ma túy .

Giải quyết nổi khổ vì bị luân hồi sinh tử , đạo phật cho rằng phải thanh lọc tâm ý chấp ngã thành vô ngã , đoạn trừ hoàn toàn tham , sân , si , bằng ba Thánh đạo : Chánh tinh tấn , Chánh niệm , Chánh định để đưa đến Chánh trí , Chánh giải thoát .

Đạo đức Phật giáo mang tính phổ quát , là cơ sở đạo đức cho xã hội . Hành vi đạo đức Phật giáo mang tính tự giác , không ép buộc bởi Thượng đế hay một áp lực nào , chỉ vì nhu cầu hạnh phúc và an ổn cho đời sống cá nhân và cộng đồng một cách lâu dài . Đó là những nguyên tắc đạo đức cho bất cứ người nào , thời đại hay xã hội nào . Đây là tính ưu việt của đạo đức Phật giáo .

5. Socrate ( 649 – 399 BC ) : Là một nhà hiền triết rất nổi tiếng thời Hy Lạc cổ đại. Đối với vấn đề đạo đức , ông cho rằng :" Một nền đạo đức thực tiển không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ , ta có thể tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần học , hoàn toàn thích hợp với ngườicó tôn giáo cũng như không có tôn giáo thì xã hội có thể được ổn định mà không cần thần học" ( Will Durant – Câu chuyện triết học ) . Ông cho rằng tinh hoa của một nền luân lý chính là nhận thức sáng suốt về quyền lợi chính đáng , thấu triệt được luật nhân quả , kiểm soát được lòng ham muốn … mọi tội lỗi đều do nhu si mà ra . Ông phân biệt hai hạng người : Một là hạng người vô minh ; Hai là hạng người trí tuệ . Người có trí tuệ cũng bị cám dỗ bởi tham sân si nhưng họ biết dùng trí tuệ để chế ngự sự cám dỗ và không rơi vào vòng tội lỗi .

Theo Socrate , bản tính con người là thiện . Khi người ta biết điều thiện thì người ta sẽ làm điều thiện . Cho nên , sự phân biệt thiện ác rất quan trọng trong đời sống của con người, người có trí tuệ chính là người biết rõ thiện ác .

6. Platon ( 427- 347 BC ) : là học trò của Socrate . Vấn đề đạo đức ông cho rằng đó là sự công bằng hay là sự thăng bằng :" Mỗi cá nhân là một sự phối hợp các ước muốn , các tình cảm , các suy nghĩ . Nếu các yếu tố được điều hoà thì cá nhân sẽ được tồn tại thành công nếu các yếu tố ấy không làm đúng phận sự của mình , nếu để tình cảm hướng dẫn hành động con người sẽ mất thăng bằng , thăng bằng là sự ổn cố của tâm hồn . Tất cả những sự xấu xa trên đời đều do sự thiếu điều hoà , nghĩa là thiếu sự thăng bằng giữa con người và vũ trụ , giữa con người với con người , giữa con người với xã hội". Ông nhấn mạnh sự thăng bằng hay công bằng là một sự quan hệ giữa cá nhân , tuỳ thuộc vào tổ chức xã hội .

Tuy nhiên , ông công nhận sự đau khổ của con người xuất phát từ trong tâm hồn của con người . Ông cho rằng con người không được hạnh phúc vì :" Do lòng tham và sự xa hoa .Con người không chịu bằng lòng với một đời sống giản dị , họ luôn muốn chiếm đoạt , muốn ao ước , muốn ganh đua , muốn ghen ghét . Họ bất mãn với những gì họ có và chạt theo những gì họ chưa có , họ chỉ muốn những gì thuộc về kẻ khác ( Câu chuyện Triết học ) .Ông cũng chủ trương như thầy của ông là hành vi con người có giá trị khi tham , sân , si được hướng dẫn chuyển hoá bởi trí tuệ . Ông chủ trương cải hoá lòng người bằng âm nhạc

Điều này tương tự như chủ trương của Khổng Tử ở Trung Hoa . Ông nói :" Cần phải dạy cho dân chúng biết âm nhạc . Nhờ âm nhạc mà tâm hồn con người ý thức được sự điều hoà và nhịp điệu , do đó mà ý thức được công lý".

7. Aristote ( 384-322 ) : Ông là học trò xuất sắc của Platon . Ông chủ trương thuyết Trung Dung dạy con người hành động hợp lý giữa các thái cực . Cũng như các bậc thầy của ông vấn đề đạo đức vẫn đặt trên nền tảng lý trí :" Đạo đức tuỳ thuộc vào sự suy luận chính xác , sự kiểm soát tinh thần , sự quân bình của lòng ham muốn . Thói quen suy luận đưa người ta đến chỗ thánh thiện . Một người hành động chính đáng không phải vì lý do họ là một người có đạo đức nhưng ngược lại vì họ có đạo đức do sự huấn luyện suy tư , công phu mà họ hành động chính đáng". ( sđd ) Điều đó có nghĩa là sự thánh thiện đạo đức của một con người không phải tự nó có mà phải do tập luyện hành trì lâu ngày trở thành thói quen . Đặt biệt , Aristote hướng đạo đức đến cứu cánh của ó là hạnh phúc cho đời sống của con người . Ông nói :" Mục đích trực tiếp của cuộc đời không phải cái hay cái đẹp mà chíng là hạnh phúc". Định nghĩa về hạnh phúc , ông nói :" Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của con người . Đức tính nổi bậc nhất của loài người là khả năng suy luận , chính nhờ đức tính này mà loài người đứng trên tất cả các loài khác . Chính vì vậy mà khả năng suy luận một khi được phát triển hoàn toàn đầy đủ sẽ đem đến hạnh phúc hoàn toàn cho con người".

Tóm lại , trên đây chỉ nêu tiêu biểu và sơ lược về quan niệm đạo đức của một số tôn giáo , Triết học Đông Tây . Nếu cần thiết có thể tham khảo rộng

hơn và đủ hơn qua các tác phẩm chuyên môn . Nhìn chung quan niệm về đạo đức là :

Con người phải có lòng từ bi nhân ái bao , bao dung .
Phải có trí tuệ biết rõ thiện ác
Phải bớt dục vọng , biết tri túc khiêm tốn .
4. Đạo đức là những đức tính mang tác dụng chuyển hoá con người bản năng thành con người tự chủ , con người đau khổ thành con người hạnh phúc .

IV. MỤC TIÊU CỦA ĐẠO ĐỨC :

Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc . Banzeladze , một tư tưởng gia phương tây viết :" Vân đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc . Con người là giá trị cao nhất , là cơ sở , là ngọn nguồn của mọi giá trị , mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người". ( Đạo Đức Học NXB Hà Nội )

Những quan điểm và hành vi đạo đức nếu không đáp ứng được mục tiêu hạnh phúc cho con người thì không thể coi là đạo đức được ; không thể chấp nhận các tiêu chuẩn đạo đức mà đưa đến sự áp bức , hảm hại , bất công và đau khổ . Như vậy , mục tiêu của đạo đức là hạnh phúc . Hạnh phúc là gì ? Một vấn đề khá phức tạp .Có người quan niệm rằng hạnh phúc đến từ vật chất như tài sản , sắc đẹp , danh vọng hoặc đến từ sức khoẻ của cơ thể ; đến từ tình yêu ( một mái nhà tranh hai quả tim vàng chẳng hạn ) hoặc đến từ cảm thụ thẩm mỹ nghệ thuật hoặc sự ân sủng của Thượng đế …

Mặc dù quan niệm về hạnh phúc khác nhau nhưng có một kinh nghiệm chung về hạnh phúc , đó là một cảm thọ có điều kiện , nghĩa là cảm giác thoải mái sung sướng vui tươi do các điều kiện phù hợp có mặt . Những cảm giác ấy Đạo Phật gọi là Lạc thọ , đó là một trong 3 cảm giác : Lạc , Khổ , và Trung tính , đã là cảm thọ thì nó vô thường . Vì vậy có những cảm thọ thoáng qua nhanh , có những cảm thọ tồn tại lâu dài , có những cảm giác hạnh phúc nhưng nó lại là nguyên nhân của cảm giác khổ đau , có những cảm giác hạnh phúc là nền tảng cho những cảm giác hạnh phúc cao hơn .

Nhìn chung thì hạnh phúc đến từ yếu tố tinh thần được nhiều người chấp nhận hơn , ít người cho rằng hạnh phúc đến từ vật chất . Aristote , Triết gia cổ đại Hy Lạp cho rằng :" Mặc dù tiện nghi vật chất cần thiết cho đời sống hạnh phúc nhưng yếu tố chính là sự sáng suốt của tâm hồn . Những khoái lạc giác quan không phải là chìa khoá của hạnh phúc . Hạnh phúc phải là sự khoái lạc của tâm trí". ( Câu chuyện triết học ) Ông ta công nhận giá trị của vật chất nhưng coi hạnh phúc thuộc giá trị tinh thần cao hơn , đây là cái nhìn được nhiều triết gia chia xẻ . Banzeladze viết :" Tronh lãnh vực khoái cảm vật chất , khoái cảm càng mạnh thì càng ngắn ngủi . Cường độ khoái cảm tỷ lệ nghịch với độ dài thời gian của nó … trong lãnh vực những khoái cảm về tinh thần nhân tố thời gian có một giai trò hoàn toàn khác , thời gian tác động có lợi cho con người . Ở đây , không có quy luật tỷ lệ nghịch , ngược lại cường độ khoái cảm càng cao trong lãnh vực này thì nó càng kéo dài".

( Đạo đức Phật giáo – T. Chơn Thiện )

Đức Phật có lần so sánh hạnh phúc của vua Bimbisara và hạnh phúc của ngài , Ngài dạy rằng hạnh phúc mà vua Bimbisara hưởng thụ không kéo dài trong một ngày một đêm , còn hạnh phúc mà ngài hưởng thụ một cách thuần tuý kéo dài 7 ngày 7 đêm vì đó là hạnh phúc của tâm linh ( thiền định ) ( Kinh tiểu khổ uẩn – Trung bộ I ). Đức Phật thường dạy đệ tử phải biết rõ bản chất của lạc thọ ( cảm giác hạnh phúc ) sau khi biết rõ hãy an trú vào nội lạc ( hạnh phúc tâm linh ) ( Kinh Trung Bộ )

Đề cập đến haạnh phúc của một con người bình thường trong xã hội , Đức Phật dạy có 4 loại hạnh phúc :

1.Hạnh phúc khi có được tài sản sở hữu hợp pháp .

2.Hạnh phúc của sự hưởng thụ hợp lý tài sản ấy.

3.Hạnh phúc của sự không vướng mắc nợ nần của ai .
4.Hạnh phúc của sự không có tội lỗi ( tâm hồn trong sáng thanh thản )

( Kinh tăng Chi – chương 4 pháp )

Hạnh phúc thứ tư được coi là căn bản và cao nhất , nếu hạnh phúc tinh thần này không có mặt thì 3 loại hạnh phúc trên trở nên vô nghĩa . Một người có nhiều tội lỗi không thể sống hạnh phúc được , ngược lại một người không có gây tạo tội lỗi thì có thể sống hạnh phúc , nghĩa là tâm hồn thanh thản , lương tâm trong sạch không có lo âu sợ hãi ân hận… một người như vậy phải là một người sống có đạo đức , sống không bị chi phối , thúc bách của tham lam , sân hận và tà kiến .

Quan niệm hạnh phúc theo Phật giáo nó đồng nghĩa với giải thoát . Như vậy toàn bô hệ thống giáo lý Phật giáo noi chung và hệ thống giới luật nói riêng đều là con đường đi vào đạo đức và hạnh phúc . Sự giải thoát hay hạnh phúc của một con người nhiều hay ít , cao hay thấp tuỳ thuộc vào hành vi đạo đức của người ấy , nghĩa là tuỳ thuộc vào sự chế ngự dục vọng nhiều hay ít , nhất htời hay triệt để . Người phật tử xuất gia hay tại gia không phải sống hai lối sống khác nhau mà chính là sống trên một trình giải thoát khỏi dục vọng và đau khổ , tuỳ theo điều kiện và cấp độ tu tập mà có sự khác nhau giữa hai đời sống xuất gia và tại gia .

V. GIỚI LUẬT LÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC :

Mục tiêu của đạo đức là hạnh phúc hay nói cách khác , muốn sống có hạnh phúc thì phải sống có đạo đức . Đạo đức phải được xây dựng trên cơ sở những tiêu chuẩn phù hợp với thực tiển của con người và hoàn cảnh xã hội mà con người đang sống . Có những tiêu chuẩn được coi là đạo đức nhưng nó không thực sự cần thiết và thực sự phù hợp với quy luật hạnh phúc . Có những tiêu chuẩn đạo đức chỉ phù hợp với một giai đoạn lịch sử nào đó .

Tóm lại nó không có tính phổ quát , không đạt chuẩn mực đạo đức toàn diện .

Vì vậy , thiết lập nền tảng đạo đức phải mang tính phổ quát , phù hợp với chân lý và thực tiển đời sống con người . Đạo Phật có thể cung cấp một hệ thống đạo đức như vậy .

Một người muốn trở thành một phật tử , tự nguyện đặt mình vào kỷ luật tâm linh mà Đức Phật đã thiết lập , họ phải tuân thủ 5 giới , 10 giới hay nhiều giới hơn nữa như 250 giới của Tỳ kheo , 48 giơi của Bồ tát … Những giới luật ấy là những nguyên tắc hành trì , để sống có phẩm chất hơn , có tác dụng hướng thượng và hướng thiện tâm lý và hành vi của cin người chứ không phải những nguyên tắc bất di bất dịch hoặc cứng nhắc giáo điều . Giới luật ấy giúp con người nhận ra được một cách sâu sắc hơn về bản chất của cuộc sống và rút ra được hệ quả đạo đức , nuôi dưỡng những niền tin vào cuộc sống hiện tại và hướng đi của tương lai .

Nếu một người hành trì các nguyên tắc đạo đức hay những giới luật này mà họ không cảm thấy một sự bình an , thanh thản nào thì họ đã không hiểu và hành trì đúng . Trong thực tế , có những phật tử tuân thủ các nguyên tắc của giới nhưng đời sống của họ vẫn thiếu đạo đức , mối tương hệ của họ với tha nhân bất ổn , các mối quan hệ khác bị khủng hoảng , Đức Phật dạy đấy là rơi vào giới cấm thủ , một trong những kiết sử , những ức chế tâm lý .

Nguyên tắc hành trì mà Đức Phật thiết lập cho các đệ tử khép mìng vào đó để làm đình chỉ dục vọng bản năng có thể nói đó là những nguyên tắc khách quan và phổ quát . Đó là 5 giới của người phật tử :

Không giết hại .
Không trộm cắp .
Không quan hệ tình dục phi pháp .
Không dối gạt hại người .
Không rượu chè say sưa .


Một nhà trí thức phương tây nhận định :" Năm giới này cho thấy 5 hướng chính mà người phật tử tự mình kiểm soát để ( hành trì ) tri hành . Đó là giới thứ nhất răn người phật tử kiềm chế nóng giận , giới thứ hai kiềm chế tham đắm vật chất , giới thứ ba kiềm chế nhục dục , giới thứ tư kiềm chế sự khiếp nhược và ác ý ( nguyên nhân không chân thật ) và giới thứ năm kiềm chế lòng ham muốn các sự kích thích nhơ bẩn’.( Edmond- Homs – Tín điều của Đức Phật ) . Dù phật tử hay không là phật tử , các nguyên tắc đạo đức này cần phải được thực hành , dù trong điều kiện thời gian hay không gian nào , nếu không muốn có hậu quả xấu . Đức Phật xác định rằng một người nếu có hành vi sát sinh , lấy của không cho , tà hạnh trong các dục , nói láo và đắm say rượu men rượu nấu thì sẽ có một cuộc sống sợ hãi và hận thù đồng thời cõi ác đau khổ đang chờ đợi họ ; ngược lại một người ( phật tử ) từ bỏ sát sinh … thì cuộc sống không có sợ hãi , hận thù và cõi thiện đang chờ đợi họ . giá trị của một con người phải được đánh giá qua tài sản , thân tướng , dòng họ , địa vị … mà được đánh giá qua 5 nguyên tắc đạo đức trên . Đức Phật dạy thêm rằng :" Một người mà hành trì của họ được bảo vệ bởi 5 nguyên tắc ( giới ) trên thì người ấy có thể thành tựu một cách nhanh chóng bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú". ( Tăng Chi III )

Đi sâu hơn các nguyên tắc căn bản trên , Đức Phật thiết lập 10 giới ( 10 điều thiện ) nhằm nâng cao hơn nữa hành vi và tâm lý đạo đức của con người 10 điều ấy được thiết lập trên cơ sở hành vi , ngôn ngữ , tâm lý .

Hành vi gồm có : Không sát sinh

Không trộm cắp

Không quan hệ tình dục phi pháp

Ngôn ngữ gồm có : Không nói dối .

Không nói hai lưỡi .

Không nói lời độc ác .

Không nói lời phù phiếm ba hoa .

Tâm ý gồm có : Không tham lam .

Không sân hận .

Không si mê tà kiến .

10 giới điều này thực sự bước vào lộ trình của giải thoát , đây là giới căn bản cho cả tại gia và xuất gia , khác với 5 giới là bước đầu chỉ quy định trong phạm vi , hành vi và ngôn ngữ là những biểu hiện đạo đức cụ thể gây hậu trực tiếp , tuy vậy vẫn chưa thể hiện được nguồn gốc , động cơ bên trong có người có thể giữ gìn vẻ bề ngoài như là có đạo đức để lừa gạt người khác nhưng họ vẫn không thể là người tốt thực sự , vì động cơ bên trong không lành mạnh , chỉ tốt bề ngoài chưa phải là thiện thật sự . luật pháp của xã hội cũng chỉ giới hạn ở mức độ hành vi và ngôn ngữ mà thôi . Đức Phật dạy rằng :"một người thực hành 10 điều bất thiện thì cuộc sống của họ là phi đạo đức đồng thời không đạt được mục tiêu hạnh phúc"." Này các Tỳ kheo , sát sinh , lấy của không cho , tà hạnh trong các dục , nói láo , nói hai lưỡi , nói lời độc ác , nói lời phù phiếm , tham lam , sân hận và tà kiến , đây gọi là phi pháp và phi mục đích" (Kinh tăng Chi III ). Ngài khuyên mọi người nên sống đúng theó0 điều thiện , như vậy phù hợp với nguyên tắc đạo đức và quy luật của hạnh phúc .

Trong 10 điều thiện phân làm 3 lãnh vực : Thân , Khẩu , Ý – Theo Phật giáo lãnh vực tâm lý rất quan trọng , những hành vi của thân khẩu ý đều có động cơ từ ý thức – Những hành vi bất thiện chỉ là những biểu hiện của động lực bên trong : Tham , sân hay tà kiến . Vì vậy , đạo phật thường coi trọng tu tâm hơn tu tướng , nếu lòng tham không được nhân diện và tu tập để chế ngự chúng thì tội ác sẽ phát sinh , thiện pháp sẽ tổn giảm . Đức Phật dạy :"này các tỳ kheo , do nhân tham , sân , si mà có sát sinh , lấy của không cho tà hạnh trong các dục , nói láo , nói hai lưỡi , nói lời độc ác , nói lời phù phiếm … Như vậy , tham là nhân duyên cho nghiệp sinh khởi , sân là nhân duyên cho nghiệp sinh khởi , si là nhân duyên cho nghiệp sinh khởi ; ngược lại tham sân si đoạn diệt thì nghiệp đoạn diệt". (Kinh tăng Chi III ) Sự phát triển giới điều trong các sinh hoạt của Tăng chúng cũng chỉ khai triển sâu và rộng hơn 3 cái động lực thiện và bất thiện bên trong tâm ý này . Tham lam là gốc nhưng tham có nhiều loại : tham sắc , tham tài , tham danh , chấp ngã … sự mở rộng giới luật chính là để tương ứng với nhiều sắc thái khác nhau của 3 tâm bất thiện này . Những nguyên tắc giới luật vừa để chế ngự , đình chỉ 10 ác nghiệp nhưng đồng thời cũng để phát triển 10 thiện nghiệp , trong luật gọi tính chất 2 mặt này của giới : Chỉ trì và Tác trì .

Đạo phật chú trọng vào động cơ tâm ý hay ý nghiệp điều đó không có nghiã là coi thường hành vi của thân và khẩu và kết quả của đối tượng . Ví dụ giới sát :" Cố ý tự tay mình làm dứt sinh mạng con người hoặc cầm dao đưa người khác giết , hoặc khen ngợi sự chết hoặc khích lệ cho chết … Người kia vì các điều trên mà chết thì phạm tội giết người phải bị trục xuất" ( Giới Tỳ kheo) Một giới nếu vi phạm phải có tác ý , hay cố ý làm căn bản nhưng để thành một hành vi phi đạo đức phải có biểu hiện thân khẩu và kết quả của đối tượng . Có trường hợp thân khẩu hành động có hậu quả cho đối tượng nhưng không cố ý , không tác ý thì không phạm tội hay tội rất nhẹ . Đó là lý do đạo đức Phật giáo thường đi sâu vào động lực tâm ý của con người . Những động lực tâm ý ấy trở thành giới luật có tác dụng phòng ngừa và làm cho con người trở nên thánh thiện .

Đối với người xuất gia giới luật rất nhiều và chi tiết Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 348 giới , Bồ tát 48 giới … nhưng cũng chỉ phát triển từ sự đoạn trừ các động lực bất thiện của tâm ý là tham , sân , si . Nếu một người không có tham sân si thì đạo đức đã hoàn thiện không còn giữ các giới điều trên làm gì Vì vậy , đức tính của một Tỳ kheo được Đức Phật dạy bao gồm các thiện tâm mà nguồn gốc là vô tham , vô sân , vô si diễn ra như sau :"Người có tâm xấu hổ ( tàm quý ) sẽ đưa đến tâm sợ hãi các tội lỗi , đưa đến không phóng dật , đưa đến biết khiêm cung , đưa đến nghe lời dạy bảo , đưa đến ưa gần người hiền đưa đến có lòng tin vào chánh pháp , đưa đến lòng vị tha , đưa đến tinh cần trong thiện pháp , đưa đến chế ngự các dục vọng , đưa đến thiện giới được tuân thủ , đưa đến gần gũi bậc thánh hiền , người trí tuệ , đưa đến ưa nghe pháp , đưa đến không quan tâm chỉ trích kẻ khác , đưa đến chánh niệm tỉnh giác , đưa đến tâm định tỉnh , đưa đến tác ý hợp chân lý , đưa đến không lầm theo tà đạo , đưa đến tâm tỉnh bén nhạy , tích cực , đưa đến đoạn trừ thân kiến , giới cấm thủ và nghi , đưa đến đoạn trừ tham sân si để thành tựu đạo đức hoàn toàn vô tham , vô sân , vô si". ( Kinh Tăng Chi III )

Tóm lại , đạo đức Phật giáo được xây dựng trên cơ sở giới luật mà những giới luật ấy là những nguyên tắc nếu được tuân thủ sẽ đem đến hiệu quả chế ngự dục vọng bản năng , thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người , con người với thiên nhiên một cách hoà điệu ; xa hơn nữa có thể tịnh hoá tâm thức thoát ly các chướng ngại và ức chế tâm lý để sống một đơi hạnh phúc chân thực .

CHƯƠNG III

NỀN TẢNG CỦA GIỚI



Giới luật được thiết lập do nhu cầu thực tiển của giáo đoàn , hay nói cách khác là do nhu cầu giáo dục kỷ luật để hướng thượng tâm linh của tăng chúng , tức là thiết lập một hướng đi , không để cho con người quờ quạng tìm kiếm một cách mệt mỏi mà không có kết quả .

Nguyên tắc của giơi như là những tiêu chuẩn cho Định và Tuệ ; mục tiêu của giới vẫn là giải thoát khổ đau hay dòng sinh tử luân hồi . Vì vậy , không thể coi giới là những giới điều bất di bất dịch , tạo nên những giới hạn làm áp lực lên tâm tư của con người . Giới càng không phải là phương tiện để tranh đoat địa vị hay tranh chấp quyền lợi . Giới được thiết lập trên nền ttảng thuận dòng pháp tánh thanh tịnh và trên nền tảng trí tuệ và từ bi .

I. TRÍ TUỆ –NỀN TẢNG CỦA GIỚI :

Giới được thiết lập trên nền tảng trí tuệ , bởi lẽ trí tuệ mới soi thấy cội nguồn của thiện ác , thấy được sự vận hành của quy luật hạnh phúc và khổ đau , quy luật của giải thoát và trói buộc . Trên mảnh đất trí tuệ , giới được thực hành một cách tự giác , tự nguyện và mới có sự nổ lực chân chính để thành tựu những gì cần thành tựu . Theo nguyên tắc thì Giới sinh Định thì Định sinh Tuệ ; tuy nhiên mặc khác trí tuệ vẫn sinh Giới và Định sinh Giới mà giới luật Đại thừa gọi là Đạo Cộng Giới và Định Cộng Giới . Giới , Định , Tuệ nương tựa vào nhau tạo thành tác dụng đoạn trừ phiền não , sự trói buộc của lậu hoặc , Kinh Tương Ưng Đức Phật dạy :

" Người trú giới có trí

Tu tập tâm và huệ

Nhiệt tâm và thận trọng

Tỳ kheo ấy thoát triền"

( Kinh Tương Ưng Tr. 36 )

Nghĩa là người giữ giới là người có trí tuệ , có trí tuệ mới giữ giới , trên cơ sở ấy phát triển Định Tuệ một cách vững chắc và tự giác , nhờ đó màthoát khỏi trói buộc của phiền não , mối liên hệ giữa trí tuệ và giới hạnh ở tronh kinh Trường A Hàm có nói rất hay :" Trí tuệ làm cho giới hạnh thanh tịnh , giới hạnh làm cho trí tuệ thanh tịnh . Chỗ nào có giới hạnh chỗ đó có trí tuệ , chỗ nào có trí tuệ chỗ đó có giới hạnh . Người có giới hạnh nhật định có trí tuệ , người có trí tuệ nhất định có giới hạnh . Trí tuệ và giới hạnh được coi là tối thắng ở đời , mối quan hệ của chúng giống như lấy bàn tay rửa bàn tay , lấy bàn chân rửa bàn chân" ( Kinh Sonadanda ) .

Giới thiết lập trên nền tảng trí tuệ , có thể đơn cử một giới như không sát sinh chẳng hạn . Không giết hại sinh vật không phải vì đó là ý muốn của bậc Đạo sư hay của Thượng đế mà bởi vì thấy rõ sự vận hành của ác nghiệp đưa đến quả báo đau khổ . Vì thấy rõ rằng , trong mối quan hệ duyên sinh tất cả mọi loài đều liên hệ với nhau nổi đau khổ của một người liên hoan đến nhân loại . Không thể có một chúng sinh nào tồn tại độc lập , vậy làm hại một sinh vật chính là hại mình . Vì thất rõ rằng tất cả chúng sinh đều có phật tính , đều đồng thể tánh thanh tịnh và bình đẳng , không ai được quyên xâm phạm đến sinh mệnh của chúng sinh khác , dù đó chỉ là một chúng sinh nhỏ bé . Nói chung giới bổn đều dựa trên cơ sở trí tuệ mà thiết lập . Vì vậy , động cơ của giới là trí tuệ và cũng từ giới mà Tuệ sinh .

Dưới sự soi chiếu của trí tuệ không thể có loại giới đưa đến trói buộc , ức chế và đau khổ như một số người thường cảm nhận và có thái độ không mấy coi trọng giới luật . Nếu có những giới luật đem đến cho ta sự khó chịu , sự ràng buộc thì có nghĩa là ta chưa thấy rõ mục tiêu và tác dụng của giới . Có lần Đức Phật dạy các Tỳ kheo không nên ăn phi thời ban ngày cũng như ban đêm . Một số Tỳ kheo phản đối cho rằng Đức Thế Tôn quá đặt nặng về sự cấm đoán , quá để ý đến những tiểu tiết không đáng quan tâm , nên họ không nghe lời Ngài . Đức Thế Tôn dạy rằng những Tỳ kheo ấy cho là những điều nhỏ nhặt . Nhưng những điều nhỏ nhặt ấy đã trói buộc được họ thì nó không còn là nhỏ nhặt nữa . Giống như con chim cái bị vướng vào sợi dây leo nhỏ bé mà vẫn bị trói chặt không thoát được . Vậy không thể nói dây leo nhỏ bé ấy là không đáng kể đối với con chim cáy , ngược lại là đằng khác . còn những Tỳ kheo vâng lời Thế Tôn dạy bảo nên từ bỏ việc này việc kia , họ liền thực hành một cách hoan hỷ thì việc nhỏ ất không trói buộc được họ ; như một con voi to khoẻ dù bị trói bằng dây da chắc chắn nó có thể bức dây ấy bằng một cách chuyển mình . Tôn giả Udayi là một trong những vị chống đối những ngăn cấm của Đức Thế Tôn sau một thời gian va chạm thưc tế mới hiểu được giá trị của những điều ngăn cấm mà Ngài đã dạy Tôn giả hối hận và bày tỏ sự thấy biết của mình đối với Đức Phật ( Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy K. Trung Bộ II ) . Trí tuệ của Phật là viên mãn , những gì Ngài dạy đều xuất sinh từ trí tuệ và từ bi của Ngài . Ngài thấy rõ hậu quả của 3 nghiệp và muốn đệ tử của mình được lợi ích mà thuyết giảng .

Một người giữ giới mà không lấy cái tuệ làm nền tảng thì không thể tiến xa hơn trên lộ trình tu tập . Họ sẽ biến giới luật thành những sợi dây trói buộc ; họ trở nên con người hẹp hòi , cố chấp , bảo thủ . Họ có thể có những ức chế tâm lý mà lệch lạc nhân cách , càng tu lâu càng khó chịu . Tệ hơn nữa họ sẽ tạo một sự mâu thuẩn nội tại bất an giữa ý nguyện giữ giới với tình ý bất thiện thầm kín , một bi kịch có thể xảy ra .

Như vậy , giới luật trở nên trói buộc hay giải thoát tuỳ thuộc vào trí tuệ cuả mỗi người . Người hiểu giới và giữ giới trên nền tảng trí tuệ là người độ lượng và an lạc . Giữ giới đối với vị ấy là tự nhiên , tất yếu và niềm vui tối thượng .

II. TỪ BI – NỀN TẢNG CỦA GIỚI :

Song song với trí tuệ , từ bi là nền tảng của giới . Thực ra , trí tuệ và từ bi là một , cái này có thì cái kia có , cái này không thì cái kia không . Như một người có hai chân để đi ; cũng vậy trí tuệ và từ bi là hai chân đi đến Niết bàn .

Giới được thiết lập trên nền tảng Từ bi , tức là tình thương yêu đối với mọi loài chúng sinh . Như vậy giới được thiết lập không chỉ thuần lý mà còn là sự cảm thông , sự ước muốn tất cả chúng sinh thoát khổ . Cho nên một người có giới là người đầy lòng nhân ái , bao dung , độ lượng , sẵn sàng vì mọi người , quên mình vì lợi ích chúng sinh . Tronh khi trí tuệ thấy rõ sự vận hành của quy luật thiện ác tạo tác dụng đình chỉ các điều ác thì Từ bi thúc đẩy thực hành các điều thiện . Tâm từ bi làm nền cho mọi hành động , soi chiếu cho mọi việc làm đối với chúng sinh như tronh Kinh Phổ Môn nói :" Từ nhãn thị chúng sinh , phước tụ hải vô lượng". Luôn luôn nhìn chúng sinh với con mắt đầy tình thương , do đó thúc đẩy hành động hiền thiện lợi ích chúng sinh nên được phước đức lớn .

Hình ảnh của một thầy Tỳ kheo thường được quan niệm là một hình ảnh đơn độc , lặng lẽ và lạnh lùng , điều đó không đúng bản chất của một Tỳ kheo . Hình ảnh vị Tỳ kheo phải là hình ảnh của sự trầm tỉnh , thanh thoát và đầy trí tuệ , đầy tình thương . Một trong những định nghĩa về Giới là thanh lương , nghĩa là người giữ giới cảm thấy mát mẻ , sự mát mẻ ấy do trí tuệ và tình thương đem đến .

Dựa trên cơ sở tình thương bao la mà lập giới đó là con đường đặt biệt của Phật giáo , có thể đơn cử 5 giới căn bản :

1. Giới không sát sinh : Vì thương yêu chúng sinh , không phân biệt loại nào . Chúng sinh nào cũng tham sống sợ chết , cũng cảm xúc đau khổ khi bị xâm phạm thân thể . Cảm nhận được niềm đau của chúng sinh như nỗi đau của mình mà mình giữ giới không giết hại .Tâm cảm thông và thương yêu ấy đưa đến giữ giới một cách tự nhiên không gượng ép .

2. Giới không trộm cắp : Vì cảm thông được sự mất mác về tài sản đem đến đau đớn , tiếc nuối , than khóc . Mình không muốn bị mất mác cho nên mình giữ giới không trộm cắp của kẻ khác . Nói theo cách của Khổng Tử :"Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân".

3. Giới không tà dâm : Vì cảm thông được nỗi đau đớn khổ sở của người bị phản bội , phụ tình , sự mất mác hạnh phúc của kẻ khác . Do sự hiểu biết và thương yêu ấy mà ta giữ giới không tà dâm , đình chỉ được ước muốn bất thiện .

4. Giới không nói dối : Vì cảm thông được tình cảnh của người bị dối gạt , bị trách mắng , bị hãm hại , và bị đau khổ do lời nói dối , lời nói bất thiện mà mình từ bỏ sự nói năng dối trá . Vì thương yêu mà mình nói những lời chân thật ôn hoà , có ích .

5. Giới không uống rượu : Vì cảm thông được nỗi đau khổ của thân thể mình , của trí não mình , vì cảm thông được sự tàn phá , sự mê muội do rượu đem đến , vì cảm thông nỗi lo lắng sợ hãi của người thân , của láng giềng , mà mình nguyện từ bỏ rượu chè say sưa , các chất gây nghiện …

Tương tự như vậy toàn bộ giới bổn mà Đức Phật dạy được xuât sinh từ lòng thương yêu và cứu khổ chúng sinh của Ngài .

Giữ giới là phương pháp tập tu trái tim tình cảm làm cho tâm hồn trở nên sinh động , đầy cảm xúc thanh cao , quân bình hoà điệu trái tim và khói óc , hay nói cách khác hoà điệu ý , tình , trí vươn tới con người toàn diện .

Nếu giữ giới mà tâm địa hẹp hòi , khó chịu , bảo thủ , chấp chặt … thì không còn bản chất giới của Phật nữa mà trở thành phiền não , giới cấm thủ .

Có trường hợp người mới vào đạo chưa quen khép mình vào kỷ luật , vào giới quy sẽ có cảm giác khó chịu và bó buộc nên không thấy thoải mái , thanh thản . Đó là điều tự nhiên , trong tâm mình đang chứa đầy tính phàm phu tục tử , những thói quen , tập khí ô nhiễm , buông lung không dễ gì thay đổi nhanh chóng . Bấy giờ muốn thay đổi chẳng khác nào làm một cuộc cách mạng thân tâm thì ắt phải khó chịu . Nhưng với ý nguyện xuất gia và tâm nguyện hướng thượng mạnh mẽ thì sẽ vượt qua cảm giác khó chịu không lâu.

Có trường hợp gặp những nghịch cảnh trong đời sống tu hành như bị Bổn sư hay đại chúng thường lấy giới luật trách mắng , chỉ trích hay hình phạt mới nhìn qua ta có cảm tưởng giới là điều kiện để người lớn áp bức mình nên ta không có thiện cảm với giới luật . Nhưng đó là những phương tiện , là tình thương của Bổn sư hay đại chúng mong cho ta được sớm thành tựu thiện hạnh

Một lần nọ , vương tử Abhaya được sự tham mưu của Nagantha Nataputta , một giáo chủ ngoại đạo , đến hỏi Đức Thế Tôn với một câu hỏi có 2 móc với ý đồ đánh bại Ngài , rằng : Có khi nào Samôn Gotamalàm cho người khác đau khổ không ? Nếu Samôn Gotama đáp là có , thì nói rằng : vậy chẳng khác phàm phu ! Nếu Samôn Gotama đáp là không , thì chất vấn tại sao Samôn gotama những lời nặng nề làm cho Devadatta phẩn nộ sầu muộn ?

Thay vì đáp là có hay không , Đức Thế Tôn hỏi vương tử Abhaya : phải chăng vương tử đang chờ đợi câu trả lời một chiều ? Vương tử thú nhận đúng như vậy . Đức Thế Tôn dạy ví như đứa trẻ con của Vương tử bị một que nhọn hay một hòn sỏi rơi vào trong cổ họng thì Vương tử phải tức tốc móc họng nó để lấy các vật ấy ra dù nó có bị đau đớn hay bị chảy máu . Vì thương yêu đứa bé mà làm như vậy . Như Lai cũng thế , chỉ vì lòng thương sót đối với chúng sinh mà có khi phải nói lời làm chúng không thích . ( Kinh Vô U?#432;ơng Tử .Trung Bộ II ) . Giới luật luôn luôn có tác dụng tốt cho ta trong bất cứ trường hợp nào , bởi Từ bi là nền tảng của giới luật . Mối quan hệ giữa Từ bi và Giới luật bất khả phân ly . Từ đó , ta thấy tính tích cực của giới và sự cần thiết của giới đối với bản thân và cuộc đời .

Tóm lại , được thiết lập trên nền tảng Từ bi và Trí tuệ , biểu hiện của giới luật là Từ bi và Trí tuệ , mục tiêu của giới luật vẫn là Từ bi và Trí tuệ . Với tâm được trang bị bằng giới luật , mọi đức hạnh đều có mặt và thiện pháp đều tăng trưởng . Từ bi là tu tập tâm giải thoát , Trí tuệ là tu tập tuệ giải thoát . Với ý nghĩa như vậy , giới luật trở thành sinh mệnh của Phật giáo :

" Biết vi phạm , biết không vi phạm , biết phạm nhẹ , biết phạm nặng , có giới luật , sống ngự với sự chế ngự của giới bổn , đầy đủ oai nghi chánh hạnh , thấy sợ hãi trong trong cái lỗ nhỏ nhặt , chấp nhận và học tập các học pháp , chứng được không khó khăn , không mệt nhọc , không phí sức đối với Bốn Thiền Tăng thượng tâm , hiện tại lạc trú , đoạn trừ các lậu hoặc tự mình với thắng trí ngay tronh hiện tại , chứng ngộ , chứng đạt Vô lậu tâm giải thoát . Thành tựu bảy pháp này gọi là người trì luật". ( Kinh Tăng Chi II- 7 pháp ) .

Hiểu nền tảng của giới , lộ trình tu tập của người phật tử rất thênh thang , giới như là không khí để thở , như gió mát mùa hè , bởi vì giới là Trí tuệ là tình thương vô tận ./



Thích Viên Giác
Share:

Translate

Bài Đọc Nhiều Nhất